I. CƠ SỞ PHÁP LÝ 1. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013; 2. Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở; 3. Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. 4. Thông tư Liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng vằ quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở. 5. Nghị quyết 166/2015/NQ-HĐND ngày 12/12/2015 của Hội đồng Nhân dân tỉnh quy định mức chi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.

II. MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ.

1. Khái niệm hòa giải ở cơ sở

Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định: Hòa giải ở cơ sở là việc Hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”.

Từ định nghĩa này, có thể thấy hòa giải ở cơ sở có một số đặc trưng sau:

- Hòa giải là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ở cơ sở.

- Hòa giải có bên thứ ba làm bên trung gian (Đó chính là Hòa giải viên) giúp cho các bên thỏa thuận với nhau về giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết.

- Hoà giải trước hết là sự thoả thuận, thể hiện ý chí và quyền định đoạt của chính các bên tranh chấp. Nói cách khác, chủ thể của quan hệ hoà giải phải chính là các bên tranh chấp. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên.

2. Phạm vi hòa giải ở cơ sở

2.1. Các trường hợp hòa giải

Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ, hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây:

a) Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác).

b) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

c) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha, mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn.

Đối với việc ly hôn, hoà giải viên thực hiện việc hoà giải, giúp đôi vợ, chồng tự hàn gắn tình cảm, giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà không được phép giải quyết, phân xử việc ly hôn: cho vợ, chồng ly hôn hay ép buộc họ không được ly hôn.

d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính:

Hoà giải viên thực hiện hoà giải những việc như trộm cắp vặt (rau, quả trong vườn, một số đồ dùng sinh hoạt có giá trị không lớn), đánh, chửi nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ, lừa đảo, đánh bạc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính.

đ) Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây thì hòa giải viên có thể tiến hành hòa giải, cụ thể là:

- Trường hợp không bị khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (được thay thế bằng Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

- Trường hợp pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (được thay thế bằng Khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

- Trường hợp vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (được thay thế bằng Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003(được thay thế bằng Khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

e) Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính.

g) Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.

2.2. Các trường hợp không hòa giải

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định các trường hợp không hòa giải gồm:

a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các trường hợp quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này.

d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều này.

đ) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở, bao gồm:

- Hòa giải tranh chấp về thương mại được thực hiện theo quy định của Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Hòa giải tranh chấp về lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2.3. Giải quyết trường hợp vụ, việc không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở

Điều 6 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định: “Trong trường hợp xác định vụ, việc không thuộc phạm vi hòa giải theo quy định tại Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở và Khoản 2 Điều 5 của Nghị định này, thì hòa giải viên giải thích cho các bên về lý do không hòa giải và hướng dẫn các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết”.

2.4. Hướng dẫn việc xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Điều 6 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định: “Trong trường hợp chưa xác định được vụ, việc có thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở hay không, thì hòa giải viên đề nghị Công chức Tư pháp - Hộ tịch hướng dẫn”.

3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở

Theo Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở, có các nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở sau:

a) Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở.

Nhiệm vụ của Hoà giải viên là hướng dẫn, giúp các bên tranh chấp tìm được tiếng nói chung để tự giàn xếp mâu thuẫn một cách ổn thỏa. Vì lẽ đó, trước hết Hoà giải viên phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, tôn trọng ý chí của họ. Hòa giải viên chỉ đóng vai trò là người trung gian hướng dẫn, giúp đỡ các bên giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải chứ không áp đặt, bắt buộc các bên phải tiến hành hòa giải. Nếu các bên không chấp nhận việc hoà giải thì Hoà giải viên không thể dùng ý chí chủ quan của mình mà bắt buộc họ phải hoà giải. Mọi tác động đến sự tự do ý chí của các bên như cưỡng ép, làm cho một trong hai bên bị lừa dối hay nhầm lẫn đều không thể hiện đầy đủ tính tự nguyện của các bên.

b) Nguyên tắc bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của Nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.

Chính sách pháp luật của Nhà nước là những định hướng chuẩn mực cho các hành vi xử sự và các hoạt động xã hội. Pháp luật của Nhà nước là những quy tắc xử sự, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội có tính phổ biến nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Các quy phạm đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp là các quy tắc xử sự có tính truyền thống trong quan hệ xã hội phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước và nguyện vọng của Nhân dân. Vì vậy, hòa giải ở cơ sở phải được tiến hành phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục tập quán tốt đẹp của Nhân dân, đồng thời là biện pháp quan trọng trực tiếp đưa chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, phát huy truyền thống đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.

Để thực hiện nguyên tắc này, mỗi Hòa giải viên phải hiểu và nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trước hết, cần nắm vững các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở và các văn bản có liên quan mật thiết đến công tác hòa giải ở cơ sở như pháp luật dân sự (như quan hệ tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế...); pháp luật hôn nhân và gia đình (như quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, quan hệ cha, mẹ, con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng...); pháp luật đất đai, bảo vệ môi trường; pháp luật hành chính và pháp luật hình sự…

Bên cạnh việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Hòa giải viên cần nắm vững các phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương để động viên, khuyên nhủ các bên dàn xếp mâu thuẫn, tranh chấp, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, việc vận dụng các phong tục, tập quán, câu ca dao, tục ngữ, phải có sự chọn lọc cho phù hợp, tránh các giáo lý, hủ tục lạc hậu.

c) Nguyên tắc khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 10 của Luật Hòa giải ở cơ sở.

Khi mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra, mỗi bên đều có lý lẽ riêng, tự cho mình là đúng, không thấy điều sai trái của mình gây ra cho người khác hoặc cố tình bảo vệ quyền lợi của mình một cách bất hợp pháp. Vì vậy, khi thực hiện hòa giải, Hòa giải viên phải bảo đảm nguyên tắc khách quan, công minh để giải quyết tranh chấp một cách công bằng, bình đẳng, quan tâm đến lợi ích của các bên tranh chấp. Hòa giải viên cần phải lắng nghe các bên tranh chấp, đồng thời, tôn trọng sự thật khách quan, công bằng, đề cao lẽ phải, tìm cách giải thích, phân tích để mỗi bên hiểu rõ đúng sai, không xuê xoa “dĩ hòa vi quý” cho xong việc. Hơn nữa có khách quan, công bằng thì Hòa giải viên mới tạo được lòng tin của các bên, để họ chia sẻ, lắng nghe, tiếp thu ý kiến phân tích, giải thích của mình, từ đó có nhận thức, tự nguyện điều chỉnh hành vi cho phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.

Thông thường, khi có mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật xảy ra trong xã hội nếu không được giải quyết kịp thời dễ dẫn đến “việc bé xé ra to”, việc đơn giản thành việc phức tạp, phạm vi ảnh hưởng cũng như hậu quả của các vi phạm pháp luật và tranh chấp ngày càng lớn. Do đó, đòi hỏi Hoà giải viên phải tiến hành chủ động, kịp thời để phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm pháp luật.

Hoạt động hoà giải ở cơ sở đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc có lý, có tình, nghĩa là hoà giải phải dựa trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội. Trước hết cần đề cao yếu tố tình cảm, phân tích, khuyên nhủ các bên ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: Như con cái phải có hiếu với cha mẹ; anh chị em phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau “như thể tay chân”, “chị ngã, em nâng”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”; vợ chồng sống với nhau phải có tình, có nghĩa, “đạo vợ, nghĩa chồng”; xóm giềng thì “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”… Đồng thời, Hoà giải viên phải dựa vào pháp luật để phân tích, tư vấn pháp luật, đưa ra những lời khuyên và hướng dẫn các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ Nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

Trong quá trình hoà giải, Hoà giải viên phải tìm hiểu ngọn ngành của vụ việc như: Nguyên nhân phát sinh, diễn biến của vụ việc, thái độ mong muốn của các bên… Trong số các thông tin cần thiết đó, đôi khi có những thông tin liên quan đến bí mật đời tư của các bên tranh chấp. Khi được các bên tranh chấp tin tưởng và cung cấp thông tin về đời tư, Hoà giải viên cần tôn trọng và không được phép tiết lộ. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa bí mật thông tin đời tư cá nhân và những thông tin mà các bên tranh chấp che dấu về hành vi vi phạm pháp luật của mình.

d) Nguyên tắc tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

Tuân thủ nguyên tắc này có nghĩa là việc hoà giải không chỉ nhằm giải quyết tranh chấp, bảo vệ, khôi phục quyền và lợi ích của các bên mà còn phải bảo đảm lợi ích chung của xã hội, của Nhà nước và của người khác. Hoà giải viên không chỉ giúp các bên giải quyết tranh chấp mà còn góp phần giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân.

Đối với hoà giải ở cơ sở, các tranh chấp, xích mích trong đời sống sinh hoạt hàng ngày về sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, đổ rác thải làm mất vệ sinh môi trường... thường liên quan đến nhiều người khác ngoài các bên tranh chấp. Hoà giải viên không thể vì mục đích đạt được hoà giải thành của các bên tranh chấp mà làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bất kỳ người nào khác.

đ)Nguyên tắc bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở thời gian qua cho thấy, ở nơi này, nơi khác vẫn còn xảy ra tình trạng bất bình đẳng giới, bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến “trọng nam, khinh nữ”, gây nhiều khó khăn cho công tác hòa giải ở cơ sở… Nội dung của nguyên tắc này như sau:

- Bình đẳng giới trong các quy định đối với Hòa giải viên, Tổ trưởng Tổ hòa giải: Về tiêu chuẩn, phương thức bầu Hòa giải viên, quyền và nghĩa vụ của Hòa giải viên, Tổ hòa giải và Tổ trưởng Tổ hòa giải đều không phân biệt nam nữ; và ở quy định về cơ cấu tổ hòa giải, bảo đảm có hòa giải viên nữ: “Mỗi Tổ hòa giải có từ 03 Hòa giải viên trở lên, trong đó có Hòa giải viên nữ”;

- Bình đẳng giới còn được thể hiện trong các quy định về yêu cầu hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình hòa giải, thủ tục tiến hành hòa giải, văn bản hòa giải, thực hiện các thỏa thuận hòa giải, theo dõi, đôn đốc thực hiện kết quả hòa giải thành đối với các bên là như nhau không phân biệt nam, nữ.

e) Nguyên tắc không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự.

Để bảo đảm tôn trọng sự tự nguyện của các bên, tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, Hòa giải viên và các bên liên quan không được lợi dụng việc hòa giải để ngăn cản các bên bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật.

Đặc biệt, để bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật thì Hòa giải viên, các bên liên quan phải tuân thủ nguyên tắc không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để tự giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật nhằm trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự. 

4. Hòa giải viên, Tổ hòa giải

4.1. Hòa giải viên

Hòa giải viên là người được công nhận theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở để thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.

a) Tiêu chuẩn Hòa giải viên:

Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định phải Hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây:

- Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư;

- Có khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân; có hiểu biết pháp luật.

Luật Hòa giải ở cơ sở quy định tiêu chuẩn ”có hiểu biết pháp luật” vì trong điều kiện hiện nay, các mâu thuẫn, tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp; trình độ dân trí ngày một nâng lên, đòi hỏi Hòa giải viên không chỉ có uy tín, đạo đức, khả năng thuyết phục mà phải hiểu biết pháp luật mới có thể giải thích, tuyên truyền, hướng dẫn các bên trong quá trình hòa giải ở cơ sở. Mặt khác, có hiểu biết pháp luật sẽ giúp Hòa giải viên tự tin, bản lĩnh trong việc thực hiện nhiệm vụ, kết quả hòa giải mới có chất lượng, hiệu quả, đồng thời, có hiểu biết pháp luật là cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ Hòa giải viên đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, Luật không quy định cụ thể tiêu chuẩn về bằng cấp chuyên môn về luật đối với Hòa giải viên do phạm vi hòa giải ở cơ sở không đòi hỏi hòa giải viên phải am hiểu sâu về pháp luật mà chủ yếu cần có hiểu biết pháp luật nhất định để biết vận dụng quy định pháp luật trong thực hiện hòa giải, có thể giải thích, hướng dẫn các bên ứng xử phù hợp với pháp luật.

b) Quyền của Hòa giải viên:

Điều 9 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định Hòa giải viên có các quyền sau:

- Thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở;

- Đề nghị các bên có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến vụ, việc hòa giải;

- Tham gia sinh hoạt, thảo luận và quyết định nội dung, phương thức hoạt động của tổ hòa giải;

- Được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải; được cung cấp tài liệu liên quan đến hoạt động hòa giải;

- Hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực hiện hòa giải;

- Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;

- Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải;

- Kiến nghị, đề xuất về các vấn đề liên quan đến hoạt động hòa giải.

c) Nghĩa vụ của Hòa giải viên:

Điều 10 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định Hòa giải viên có các nghĩa vụ sau:

- Thực hiện hòa giải khi có căn cứ theo quy định tại Điều 16 của Luật này;

- Tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Luật này;

- Từ chối tiến hành hòa giải nếu bản thân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì lý do khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải;

- Thông báo kịp thời cho Tổ trưởng Tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã có biện pháp phòng ngừa trong trường hợp thấy mâu thuẫn, tranh chấp nghiêm trọng có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên hoặc gây mất trật tự công cộng;

- Thông báo kịp thời cho Tổ trưởng Tổ hòa giải để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý trong trường hợp phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về hình sự.

d) Bầu Hòa giải viên:

Theo quy định tại Điều 8 Luật Hòa giải ở cơ sở thì người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật này có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu Hòa giải viên.

Điều 12 Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định thủ tục bầu Hòa giải viên như sau:

- Chuẩn bị bầu hòa giải viên:

Trong thời hạn 20 ngày, trước ngày dự kiến bầu Hòa giải viên, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, đại diện các tổ chức thành viên của Mặt trận dự kiến những người được bầu làm Hòa giải viên; thống nhất thời gian bầu Hòa giải viên; quyết định hình thức bầu Hòa giải viên; quyết định danh sách Tổ bầu Hòa giải viên do Trưởng ban công tác Mặt trận làm tổ trưởng, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố làm phó tổ trưởng, một số trưởng các chi, tổ, hội của thôn, tổ dân phố là thành viên.

Tổ bầu Hòa giải viên lập danh sách những người dự kiến bầu làm Hòa giải viên sau khi đã trao đổi, động viên và nhận được sự đồng ý của những người được giới thiệu bầu làm Hòa giải viên.

Trường hợp thành lập Tổ hòa giải mới, danh sách bầu Hòa giải viên ít nhất bằng với số lượng hòa giải viên đã được Chủ tịch UBND cấp xã quyết định, trong đó có Hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, danh sách bầu Hòa giải viên phải có người dân tộc thiểu số.

Danh sách bầu Hòa giải viên được thông báo công khai tại thôn, tổ dân phố trong thời hạn 07 ngày, trước ngày bầu hòa giải viên. Trường hợp có ý kiến phản ánh về danh sách bầu hòa giải viên, thì Trưởng ban công tác Mặt trận xem xét, giải quyết.

- Tổ chức bầu Hòa giải viên:

+ Việc bầu Hòa giải viên bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp được tiến hành khi có trên 50% đại diện các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố trở lên tham dự và thực hiện như sau:

Đại diện Tổ bầu Hòa giải viên giới thiệu danh sách Tổ bầu Hòa giải viên; tiêu chuẩn của Hòa giải viên; danh sách bầu Hòa giải viên; thống nhất hình thức bầu Hòa giải viên tại cuộc họp.

Trường hợp bầu Hòa giải viên bằng hình thức biểu quyết công khai, Tổ bầu hòa giải viên trực tiếp đếm số người biểu quyết và lập biên bản về kết quả biểu quyết (Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch này).

Trường hợp bầu Hòa giải viên bằng hình thức bỏ phiếu kín, Tổ bầu Hòa giải viên làm nhiệm vụ phát phiếu, phổ biến quy chế bỏ phiếu, thu nhận phiếu và kiểm phiếu ngay sau khi kết thúc việc bỏ phiếu với sự có mặt chứng kiến của ít nhất 01 đại diện hộ gia đình không có thành viên trong danh sách bầu Hòa giải viên; lập biên bản kiểm phiếu (Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch này).

+ Việc bầu Hòa giải viên bằng hình thức phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố được thực hiện như sau: Tổ bầu Hòa giải viên phát phiếu bầu đến các hộ gia đình, thu nhận lại phiếu bầu và kiểm phiếu với sự có mặt chứng kiến của ít nhất 01 đại diện hộ gia đình không có thành viên trong danh sách bầu Hòa giải viên, lập biên bản kiểm phiếu (Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch này).

- Kết quả bầu hòa giải viên:

+ Trường hợp kết quả bầu Hòa giải viên đáp ứng yêu cầu quy định tại điểm a, điểm b Khoản 3 Điều 8 của Luật hòa giải ở cơ sở, Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là Hòa giải viên (Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch này) kèm theo biên bản kiểm phiếu hoặc biên bản về kết quả biểu quyết bầu Hòa giải viên gửi Chủ tịch UBND cấp xã. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được danh sách người được đề nghị công nhận hòa giải viên, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định.

+ Việc bầu lại Hòa giải viên được thực hiện trong trường hợp kết quả bầu không có người nào đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý. Việc bầu bổ sung Hòa giải viên được thực hiện trong trường hợp kết quả bầu không đủ số lượng Hòa giải viên để thành lập Tổ hòa giải theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã.

Trường hợp bầu Hòa giải viên bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố, thì việc bầu lại hoặc bầu bổ sung Hòa giải viên được tiến hành ngay tại cuộc họp đó.

Trường hợp bầu Hòa giải viên bằng hình thức phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình, thì thời gian tổ chức bầu lại hoặc bầu bổ sung Hòa giải viên do Trưởng ban công tác Mặt trận quyết định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tổ chức bầu trước đó.

Tổ bầu Hòa giải viên dự kiến danh sách mới để bầu lại, bầu bổ sung Hòa giải viên.

+ Trường hợp số người được đề nghị công nhận là Hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp nhiều hơn số lượng Hòa giải viên được Chủ tịch UBND cấp xã quyết định thì Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách những người được đề nghị công nhận, trong đó bao gồm những người có số phiếu bằng nhau gửi Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định.

+ Trường hợp Tổ hòa giải đã được thành lập đủ số lượng Hòa giải viên theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã, nhưng chưa có Hòa giải viên nữ hoặc Hòa giải viên là người dân tộc thiểu số theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Luật hòa giải ở cơ sở, thì Trưởng ban công tác Mặt trận làm văn bản báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Trưởng ban công tác Mặt trận, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định việc bầu bổ sung Hòa giải viên nữ hoặc Hòa giải viên là người dân tộc thiểu số.

+ Nếu việc bầu lại hoặc bầu bổ sung Hòa giải viên theo quy định tại điểm b, điểm d Khoản 3 Điều này không đạt kết quả, thì Trưởng ban công tác Mặt trận làm văn bản báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Trưởng ban công tác Mặt trận, căn cứ vào yêu cầu thực tiễn, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định số lượng, thành phần Tổ hòa giải.

          đ) Thôi làm Hòa giải viên:

          - Điều 11 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định việc hôi làm Hòa giải viên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

+ Theo nguyện vọng của hòa giải viên;

+ Hòa giải viên không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 của Luật này;

+ Vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 4 của Luật này hoặc không có điều kiện tiếp tục làm hòa giải viên do bị xử lý vi phạm pháp luật.

Trường hợp thôi làm Hòa giải viên thì Tổ trưởng Tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định thôi làm Hòa giải viên.

Trường hợp thôi làm Hòa giải viên đối với Tổ trưởng Tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định thôi làm Hòa giải viên.

Quyết định thôi làm Hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

          - Thủ tục thôi làm Hòa giải viên:

Điều 14 Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định thủ tục thôi làm Hòa giải viên như sau:

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ khi nhận được đề nghị của Tổ trưởng Tổ hòa giải về việc thôi làm Hòa giải viên, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng dân phố xem xét, xác minh, làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định thôi làm Hòa giải viên (Mẫu số 08 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch này).

Đối với trường hợp thôi làm Hòa giải viên theo quy định tại điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 11 của Luật hòa giải ở cơ sở, nếu Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố không đồng ý với đề nghị của Tổ trưởng Tổ hòa giải hoặc Trưởng ban công tác Mặt trận và Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố không thống nhất được với nhau về đề nghị của Tổ trưởng Tổ hòa giải, thì Trưởng ban công tác Mặt trận thông báo với Tổ trưởng Tổ hòa giải, nêu rõ lý do không đồng ý, đồng thời báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định (Mẫu số 09 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch này).

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hoặc báo cáo về việc thôi làm Hòa giải viên, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định.

Trường hợp không đồng ý với đề nghị của Tổ trưởng Tổ hòa giải về việc thôi làm Hòa giải viên, Hòa giải viên kiến nghị để Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, tổ dân phố xem xét, giải quyết.

4.2. Tổ hòa giải

Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của Nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở.

          Tổ hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số.

          Chủ tịch UBND cấp xã quyết định số lượng Tổ hòa giải, Hòa giải viên trong một Tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

          Điều 13 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định Tổ hòa giải có trách nhiệm sau:

          - Tổ chức thực hiện hòa giải;

- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các giải pháp để tiến hành hòa giải vụ, việc phức tạp;

- Phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Chi hội phụ nữ, Chi đoàn thanh niên, Chi hội cựu chiến binh, Chi hội nông dân, Chi hội người cao tuổi, các Tổ hòa giải và tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động hòa giải ở cơ sở;

- Kiến nghị với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, UBND cấp xã về hoạt động hòa giải ở cơ sở, các điều kiện cần thiết cho hoạt động hòa giải ở cơ sở;

- Đề nghị khen thưởng Tổ hòa giải, Hòa giải viên có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải.

5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chứcở địa phương trong hoạt động hòa giải ở cơ sở

5.1. Trách nhiệm của UBND các cấp

Luật Hòa giải ở cơ sở đã quy định trách nhiệm của UBND các cấp trong công tác hòa giải ở cơ sở và được Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết tại Điều 4 của Nghị định. Cụ thể như sau:

a) Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh:

- Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh hướng dẫn, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi địa phương;

- Biên soạn, hỗ trợ tài liệu phục vụ công tác hòa giải ở cơ sở; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cho cấp huyện; hướng dẫn cấp huyện tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho Hòa giải viên theo quy định;

- Tổng hợp, trình dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương để HĐND cùng cấp xem xét, quyết định;

- Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; tiếp nhận, tổ chức thực hiện, khen thưởng tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xem xét, quyết định khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trên cơ sở đề nghị của UBND cấp huyện; định kỳ sáu tháng, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu thực hiện thống kê, báo cáo HĐND cùng cấp và Bộ Tư pháp kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

b) Trách nhiệm của UBND cấp huyện:

-  Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện hướng dẫn, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi địa phương; hướng dẫn lồng ghép thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở vào xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của thôn, làng, bản, ấp, cụm dân cư; cung cấp tài liệu, thông tin miễn phí về chính sách, pháp luật liên quan cho tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở;

- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cho cấp xã; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho Hòa giải viên theo hướng dẫn của Sở Tư pháp;

- Tổng hợp, trình dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương để HĐND hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định;

- Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; tiếp nhận, tổ chức thực hiện, khen thưởng hoặc đề nghị UBND cấp tỉnh khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khi cần thiết; xem xét, quyết định khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải của xã, phường, thị trấn trên cơ sở đề nghị của UBND cấp xã; định kỳ sáu tháng, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu thực hiện thống kê, báo cáo HĐND cùng cấp, Sở Tư pháp kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

c) Trách nhiệm của UBND cấp xã:

-  Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã hướng dẫn, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở; lồng ghép thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của thôn, làng, bản, ấp, cụm dân cư; hỗ trợ tài liệu, phổ biến pháp luật phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở cho cá nhân có uy tín trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư tham gia hòa giải ở cơ sở;

- Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã hướng dẫn Ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thành lập, kiện toàn Tổ hòa giải và công nhận, cho thôi Tổ trưởng Tổ hòa giải, Hòa giải viên;

- Xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải trình HĐND cùng cấp hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; thực hiện hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải tại xã, phường, thị trấn;

- Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; tiếp nhận, tổ chức thực hiện, khen thưởng hoặc đề nghị UBND cấp huyện khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của xã, phường, thị trấn khi cần thiết; định kỳ sáu tháng, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu thực hiện thống kê, báo cáo HĐND cùng cấp, Phòng Tư pháp kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

5.2. Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Luật Hòa giải ở cơ sở và Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định cụ thể như sau:

a) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở:

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương đóng góp ý kiến về dự thảo văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở theo đề nghị của cơ quan Tư pháp, UBND cùng cấp; tổ chức thực hiện và hướng dẫn các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết.

b) Tổ chức phổ biến, vận động Nhân dân thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp phổ biến, vận động Nhân dân tại cộng đồng dân cư thực hiện pháp luật

cơ sở bằng biện pháp hòa giải.

Cơ quan Tư pháp, UBND các cấp hỗ trợ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận về tài liệu phục vụ công tác hòa giải ở cơ sở; bồi dưỡng, tập huấn cho báo cáo viên pháp luật của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp để thực hiện công tác phổ biến, vận động Nhân dân chấp hành pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

c) Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương cử đại diện tham gia đoàn kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở theo đề nghị của cơ quan Tư pháp, UBND cùng cấp; phối hợp chuẩn bị các điều kiện phục vụ kiểm tra và thực hiện kiểm tra theo kế hoạch.

Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra của UBND cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì, phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận, Tổ trưởng Tổ hòa giải tiến hành tự kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở tại thôn, tổ dân phố, báo cáo UBND cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã về kết quả tự kiểm tra.

d) Giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng kế hoạch giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; yêu cầu cơ quan, tổ chức được giám sát cung cấp thông tin về các vấn đề có liên quan đến nội dung giám sát; tổ chức đối thoại với đối tượng được giám sát để làm rõ nội dung kiến nghị; gửi báo kết quả giám sát đến UBND cùng cấp.

UBND các cấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giám sát; yêu cầu tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung kiến nghị giám sát khi cần thiết; tổ chức thực hiện kiến nghị sau giám sát.

đ) Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; tổ chức hội thi hòa giải viên giỏi:

Việc phối hợp tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở được thực hiện như sau:

- UBND các cấp định kỳ hàng năm tổ chức sơ kết, định kỳ năm năm tổ chức tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở;

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương xây dựng báo cáo sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở gửi cơ quan Tư pháp, UBND cùng cấp để tổng hợp; đóng góp ý kiến về báo cáo sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở theo đề nghị của cơ quan Tư pháp, UBND cùng cấp và phối hợp chuẩn bị các điều kiện phục vụ sơ kết, tổng kết;

Căn cứ kế hoạch sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở của UBND cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì, phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận, Tổ trưởng Tổ hòa giải tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, báo cáo UBND cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

UBND các cấp chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức hội thi Hòa giải viên giỏi.

Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì, phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận, Tổ trưởng Tổ hòa giải động viên, khuyến khích hòa giải viên tham gia hội thi Hòa giải viên giỏi.

e) Tổ chức khen thưởng về hòa giải ở cơ sở:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương đề xuất với UBND cùng cấp khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng; cho ý kiến về danh sách các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phối hợp tổ chức tôn vinh, khen thưởng về hòa giải ở cơ sở.

B. KỸ NĂNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ VÀ MỘT SỐ VỤ VIỆC ĐIỂN HÌNH HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

I. KỸ NĂNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1. Các bước tiến hành hòa giải

  1.1. Bước 1: Trước khi hòa giải

a) Tìm hiểu nội dung vụ việc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp, lợi ích mà các bên hướng tới, trọng tâm là lợi ích cốt lõi

Khi có mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 16 Luật Hòa giải ở cơ sở, tuỳ thuộc đối tượng, tính chất vụ việc, quan hệ gia đình, xã hội… của các bên tranh chấp mà Tổ trưởng Tổ hòa giải nghiên cứu, lựa chọn, cử Hòa giải viên tham gia hòa giải cho phù hợp. Việc hòa giải có thể do một hoặc một số Hòa giải viên tiến hành. Tổ hòa giải có thể tự quyết định số hòa giải viên tham gia hòa giải đối với từng vụ, việc cụ thể. Ví dụ, hoà giải tranh chấp về hôn nhân gia đình nên cử Hoà giải viên là nữ giới tác động với bên vợ và cử Hoà giải viên nam giới tác động với bên chồng sẽ mang lại kết quả cao hơn. Đối với những việc tranh chấp tương đối phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên tương đối gay gắt, sự có mặt của một số Hoà giải viên sẽ tác động nhiều hơn đến tâm lý của các bên tranh chấp, hoặc mỗi Hoà giải viên sẽ đứng ra giải thích, thuyết phục, cảm hoá từng bên.

Hòa giải viên được phân công hòa giải cần chủ động, tích cực tìm hiểu về nội dung vụ việc, thu thập thông tin, chứng cứ, nắm bắt hoàn cảnh, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, tác động của mâu thuẫn, tranh chấp đối với các bên thông qua các biện pháp sau đây:

- Gặp gỡ, trao đổi riêng với từng bên tranh chấp (thường ở nhà riêng của từng bên) và phải bảo đảm gặp gỡ, trao đổi được với tất cả các bên tranh chấp; cần có cách nhìn khách quan, tránh phiến diện, thiên lệch trong quá trình hòa giải vụ, việc.

- Gặp gỡ, trao đổi với những người khác có liên quan nhằm mục đích hiểu rõ hơn về vụ việc; lợi ích, mong muốn của các bên, lợi ích cốt lõi để xem lợi ích nào có thể chấp nhận được.

* Lưu ý:

Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì Tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện để có kết quả tốt.

- Trong quá trình gặp gỡ, trao đổi với các bên tranh chấp và những người có liên quan, Hòa giải viên cần phải đề nghị được cung cấp các tài liệu, bằng chứng liên quan đến vụ việc và xem xét cụ thể, tỉ mỉ các tài liệu, bằng chứng đó.

- Trong trường hợp các bên đang xung đột gay gắt, căng thẳng, Hòa giải viên cần can thiệp kịp thời, khuyên giải các bên bình tĩnh, cùng đối thoại, không để “việc bé xé ra to”, tránh kéo dài tình trạng cãi cọ qua lại, bàn tán, xúi giục, kích động, dẫn đến hành vi bạo lực.

Nếu thấy mâu thuẫn, tranh chấp nghiêm trọng có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên hoặc gây mất trật tự công cộng, Hòa giải viên thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã có biện pháp phòng ngừa hoặc báo trực tiếp công an, chính quyền xã để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

b) Tìm hiểu các quy định pháp luật vận dụng trong quá trình hòa giải và khả năng đáp ứng lợi ích của mỗi bên, nhất là các lợi ích cốt lõi

Với các thông tin mà Hòa giải viên đã thu thập được, Hòa giải viên đọc tài liệu pháp luật liên quan, thảo luận với nhau để tìm ra các điều khoản thích hợp áp dụng cho vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn. Đối chiếu quy định pháp luật với lợi ích, mong muốn của các bên để dự kiến giải pháp tốt nhất có thể gợi ý cho các bên về giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật.

Trường hợp cần thiết, Hòa giải viên có thể tham khảo ý kiến của những người có trình độ pháp lý (công chức cấp xã, luật gia, luật sư…).

Đối với vụ việc có thể vận dụng quy định pháp luật một cách rõ ràng, thì căn cứ trên quy định của pháp luật, Hòa giải viên phân tích, thuyết phục các bên. Các bên tranh chấp có thể không cần gặp nhau trực tiếp, mà thống nhất với nhau phương án giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp thông qua Hòa giải viên (Hòa giải viên gợi ý giải pháp, hai bên nhất trí với giải pháp đó hoặc một bên tranh chấp đưa ra giải pháp, bên tranh chấp còn lại đồng ý khi hòa giải viên đề cập đến giải pháp này). Quá trình hòa giải lúc này là hoàn thành và Hòa giải viên cần khẳng định lại thỏa thuận đạt được và việc thực hiện thỏa thuận, cũng như chuyển đến Bước 3 - Sau khi hòa giải.

1.2. Bước 2: Tiến hành hòa giải

a) Thành phần tham dự buổi hòa giải

Thành phần tham dự buổi hòa giải gồm có:

- Hòa giải viên;

- Các bên tranh chấp, mâu thuẫn; trong trường hợp cần thiết, Hòa giải viên mời cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia buổi hòa giải để nhìn nhận vụ việc toàn diện, khách quan hơn, giúp cho việc hòa giải được thuận lợi. Việc gặp gỡ trong hoà giải phải tạo ra không khí thân mật, cởi mở và chân thành, không áp đặt ý chí của Hoà giải viên đối với các bên tranh chấp;

- Để cuộc hòa giải đạt hiệu quả, Hòa giải viên có thể mời người khác tham gia hòa giải, đó là những người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội. Ví dụ như luật gia, luật sư (việc huy động những người này đặc biệt có hiệu quả đối với các địa bàn đô thị, tranh chấp xảy ra thường phức tạp, giá trị lớn, trình độ dân trí cao hơn khu vực nông thôn); già làng, trưởng bản (tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, già làng, trưởng bản là những người có uy tín cao, được kính trọng trong cộng đồng, tiếng nói của họ rất có giá trị, vì vậy sự tham gia của họ vào quá trình hòa giải là một yếu tố dẫn đến thành công), chức sắc tôn giáo (khi các bên hoặc một trong các bên tranh chấp là người theo đạo, thì việc tham gia hòa giải của chức sắc tôn giáo sẽ mang lại hiệu quả thiết thực), người biết rõ vụ việc; đại diện của cơ quan, tổ chức liên quan (ví dụ: hòa giải tranh chấp đất đai, có thể mời công chức địa chính, công chức tư pháp ở xã, phường, thị trấn; hòa giải vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở có thể mời công an xã…) hoặc người có uy tín khác (đội ngũ cán bộ, công chức đã nghỉ hưu);

- Trường hợp Hòa giải viên, các bên tranh chấp, mâu thuẫn có sự bất đồng về ngôn ngữ thì cần có người phiên dịch.

* Lưu ý:

Những người không liên quan trực tiếp đến vụ tranh chấp không nên tham gia nhiều vào trong việc giải quyết tranh chấp, bởi một điều quan trọng là các bên tranh chấp cần được tạo cơ hội trình bày ý kiến và được lắng nghe đầy đủ ý kiến của mình.

b) Thời gian, địa điểm tổ chức buổi hòa giải

- Thời gian: Buổi hòa giải cần diễn ra trong khoảng thời gian phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của các bên.

- Địa điểm: Địa điểm thực hiện buổi hòa giải cần bảo đảm thuận tiện cho các bên. Cách bố trí, sắp xếp không gian tổ chức buổi hòa giải cần phải tạo môi trường hài hòa (về chỗ ngồi, ánh sáng, nhiệt độ, tiếng ồn…), giúp cho các bên có cảm giác thoải mái, dễ chịu khi tham gia buổi hòa giải; không nên hình thức, phức tạp hoá trong khâu tổ chức thực hiện.

c) Quy trình của một cuộc hòa giải

- Hòa giải viên chủ trì buổi hòa giải nêu mục đích, ý nghĩa, thống nhất về một số quy ước, thỏa thuận về cách làm với các bên tranh chấp tại buổi hòa giải;

- Các bên trình bày nội dung vụ việc;

- Hòa giải viên tổng hợp lại các vấn đề đang tranh chấp; phổ biến, đối chiếu, phân tích các quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp điều chỉnh về vấn đề các bên đang tranh chấp, giúp các bên hiểu rõ, liên hệ đến quyền lợi, trách nhiệm trong vụ việc, thấy rõ những điểm phù hợp, chưa phù hợp trong hành vi ứng xử của mình; đưa ra các lựa chọn đáp ứng lợi ích của các bên (các phương án giải quyết để các bên tham khảo); phân tích lợi ích của việc hòa giải thành, hậu quả pháp lý mà các bên có thể phải gánh chịu nếu tiếp tục tranh chấp và có những hành vi sai trái;

Những người được mời tham gia hòa giải có thể phân tích, bổ sung làm rõ ý kiến của Hòa giải viên.

- Các bên, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phát biểu quan điểm của họ về vấn đề đang tranh chấp, mâu thuẫn; cùng bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất với nhau về phương án giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp. Trong quá trình các bên thảo luận, đối với những ý kiến đưa ra cách giải quyết bất hợp lý thì Hòa giải viên kịp thời phân tích, thẳng thắn chỉ cho họ biết yêu cầu của họ đưa ra là không hợp lý để họ cân nhắc lại. Những nội dung thoả thuận mà trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, thì Hòa giải viên cần phải giải thích để họ thoả thuận lại.

- Sau khi các bên đã thỏa thuận, thống nhất được phương án giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, thì Hòa giải viên tổng kết lại những vấn đề các bên đã thỏa thuận để các bên suy nghĩ, cân nhắc, cùng nhau khẳng định lại những thỏa thuận đạt được. Hòa giải viên nhắc nhở, đôn đốc các bên về việc thực hiện thỏa thuận.

Trường hợp các bên chỉ thỏa thuận được một phần những vấn đề có tranh chấp, Hòa giải viên tiếp tục thuyết phục các bên bàn bạc, thỏa thuận tiếp. Nếu các bên vẫn không thống nhất được thì hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật đối với những nội dung này.

- Khi các bên đạt được thỏa thuận và thống nhất lập văn bản hòa giải thành, Hòa giải viên có thể giúp các bên lập thành văn bản hòa giải thành.

- Trường hợp các bên yêu cầu lập văn bản hòa giải không thành, thì Hòa giải viên lập văn bản hòa giải không thành.

1.3. Bước 3: Sau khi hòa giải

a) Đối với trường hợp hòa giải thành (các bên đạt được thỏa thuận)

- Trường hợp hòa giải thành thì Hòa giải viên có trách nhiệm:

+ Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết;

+ Hướng dẫn các bên có thể làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (Quy định tại Chương XXXIII. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015), cụ thể như sau:

Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án:

(1) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

(2) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.

(3) Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận. Đơn yêu cầu phải được gửi đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành và phải có các nội dung chủ yếu sau:

- Ngày, tháng, năm làm đơn;

- Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự;

- Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu;

- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự đó (nếu có);

- Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.

- Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến hành hòa giải;

- Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu cầu Tòa án công nhận.

Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật có liên quan.

(4) Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Đồng thời, kịp thời thông báo cho Tổ trưởng Tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

- Trong trường hợp việc thực hiện thỏa thuận có khó khăn, thì Hòa giải viên động viên, thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với UBND cấp xã tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thoả thuận.

b)Đối với trường hợp hòa giải không thành (các bên không đạt được thỏa thuận)

- Trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận và cả hai bên yêu cầu tiếp tục hòa giải, thì Hòa giải viên tiếp tục tiến hành hòa giải.

- Trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận và một bên yêu cầu tiếp tục hòa giải, nhưng có căn cứ cho rằng việc tiếp tục hòa giải không thể đạt kết quả thì Hòa giải viên quyết định kết thúc hòa giải và hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

c) Ghi Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở

Dù việc hoà giải thành hay không thành, Hòa giải viên đều có trách nhiệm ghi nội dung vụ, việc hòa giải vào Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở để phục vụ công tác lưu trữ, thống kê, thanh toán thù lao cho Hòa giải viên, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.

2. Kỹ năng hòa giải

2.1. Kỹ năng tiếp cận đối tượng để nắm bắt thông tin về vụ, việc hòa giải và nhu cầu lợi ích của các bên (kỹ năng giao tiếp; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu về vụ, việc)

a) Kỹ năng giao tiếp:

Giao tiếp là quá trình bày tỏ ý định, cảm xúc, trao đổi thông tin với người khác. Giao tiếp có thể bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ, hành vi (không lời); Hòa giải viên tiếp cận đối tượng, nghe đối tượng trình bày, đặt câu hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ việc, tạo cơ hội cho các bên ngồi lại với nhau cùng bàn bạc, giải quyết tranh chấp…;

- Chức năng của giao tiếp:

+ Trò chuyện để nắm bắt thông tin;

+ Cung cấp cho đối tượng những thông tin chính xác để xóa bỏ những quan điểm lệch lạc, thay đổi niềm tin không đúng đắn;

+ Hỗ trợ chia sẻ về mặt tâm lý, cảm thông với đối tượng;

+ Giúp đối tượng xác định, đưa ra những quyết định cụ thể, lựa chọn cách giải quyết phù hợp;

+ Trang bị cho đối tượng kiến thức, cách ứng xử, suy nghĩ phù hợp.

- Thái độ của Hòa giải viên khi tiếp đối tượng:

+ Quan tâm và sẵn lòng giúp đỡ người khác;

+ Tôn trọng đối tượng, không phán xét họ (như: ngắt lời, không lắng nghe, ỷ thế kênh kiệu, nói năng thiếu lễ độ…);

+ Nhiệt tình trong công việc và chân thành, cởi mở để tạo sự tin cậy;

+ Chấp nhận đối tượng (dù họ ăn mặc, nói năng thế nào cũng không nên phân biệt đối xử…);

+ Quan tâm đến yêu cầu của đối tượng;

+ Thông cảm với đối tượng (hiểu được tâm lý, suy nghĩ và cảm xúc của đối tượng).

- Kỹ năng nghe đối tượng trình bày:

+ Dùng cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ  thể hiện sự chú ý lắng nghe đối tượng nói; tạo cơ hội, điều kiện, môi trường đối thoại cởi mở, thoải mái để các bên tranh chấp diễn đạt hết suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của họ.

+ Không phản ứng trước những lời tức giận của các bên, tự kiềm chế, yên lặng lắng nghe, để cho họ trút hết những lời bực bội.

+ Kiên trì nghe hết những gì đối tượng nói, không nên cắt ngang lời các bên khi họ đang trình bày hoặc hỏi lại ngay trong khi họ đang trình bày về vụ việc làm cắt đứt dòng suy nghĩ của họ.

+ Dùng lời nói hoặc thái độ, hành vi, cử chỉ để kiểm tra, khẳng định lại những thông tin về suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của đối tượng mà mình tiếp nhận được.

+ Tóm lược các nội dung mang tính bản chất của vụ việc và nguyên nhân phát sinh tranh chấp một cách chính xác, khẳng định lại với các bên tranh chấp để thống nhất quan điểm, cách hiểu về từng vấn đề.

- Các kỹ năng giao tiếp của Hòa giải viên:

Giao tiếp tốt là yếu tố cần thiết cho việc quản lý và giải quyết các xung đột. Các bên tranh chấp luôn cần phải cảm thấy rằng mọi người lắng nghe và hiểu vấn đề của họ nhằm mục đích hướng đến việc bỏ qua những gì xảy ra trong quá khứ và tập trung vào giải quyết các vấn đề trong tương lai. Một nhiệm vụ chính cho Hòa giải viên là nhằm giúp các bên tranh chấp hiểu được nhau. Những gì được nói ra và cách thức nói như thế nào đều cần phải được lắng nghe và quan tâm. Tương tự như vậy, một vấn đề không kém phần quan trọng là các Hòa giải viên cần hiểu nhu cầu và quyền lợi thực sự của các bên. Các Hòa giải viên không nên giả định rằng họ đã hiểu vấn đề, mà thay vào đó họ cần lắng nghe cẩn thận và đặt ra các câu hỏi để làm rõ được thông tin và quyền lợi.

Trong quá trình giao tiếp, Hòa giải viên cần lưu ý về các lý do dẫn đến giao tiếp bị thất bại để phòng tránh như:

+ Suy nghĩ và ý kiến của người nói chỉ có họ hiểu được, do đó người nghe phải đoán xem người nói đang có ý nghĩ gì. Cách hiểu của người nghe cũng là cách hiểu của cá nhân người nghe, điều này có nghĩa là không bên nào biết được mình có thể sai.

+ Ngôn ngữ thường khác nhau và có những ý nghĩa khác nhau đối với mọi người, đặc biệt nếu họ đến từ những nền văn hóa, các nhóm cộng đồng khác nhau.

+ Mọi người thường nói về các vấn đề bề nổi trong khi các vấn đề ẩn chứa bên trong thường được quan tâm hơn.

+ Thảo luận cái gì quan trọng nhất với chúng ta là một điều khó khăn. Do vậy, chúng ta thường đưa ra những giải pháp giải quyết các vấn đề nhỏ mà không đề cập đến những băn khoăn thực sự ẩn chứa bên trong.

+ Người nói có thể không nhận biết được cảm xúc của họ, nhiều người được dạy cách kiềm chế cảm xúc (ví dụ: con trai không được khóc, con gái không được tỏ ra cáu giận...).

+ Người nghe bị sao nhãng bởi các suy nghĩ và sự kiện xung quanh họ. Họ nghe thông qua các ý niệm có được từ kinh nghiệm và định kiến, các kinh nghiệm và định kiến này có thể bóp méo vấn đề đã được nói. Chúng ta thường nghe vấn đề chúng ta mong muốn người khác nói.

- Các rào cản cho việc giao tiếp hiệu quả:

Trong quá trình giao tiếp, Hòa giải viên cần lưu ý một số rào cản làm ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp sau đây:

+ Sự chỉ trích: Tập trung vào các khía cạnh tiêu cực của xung đột gây ra cảm giác tội lỗi và làm giảm sự tự tin của đối tượng giao tiếp.

Ví dụ đưa ra sự khẳng định: “Anh rất ích kỷ khi thực hiện việc đó mà không nghĩ đến ai khác”.

+ Sự phỏng đoán: Thăm dò các nội dung ẩn giấu hoặc coi như là hiểu động cơ  của đối tượng giao tiếp, gây ra sự giận dữ và hủy hoại lòng tin của đối tượng giao tiếp. Ví dụ: “Tôi nghĩ rằng anh đang không kiểm soát được hành động của bản thân vì anh cảm thấy bị bỏ rơi khi gia đình anh không nhắc đến anh khi chia tài sản thừa kế”.

+ Sự phê phán: Xác lập một vị trí dựa trên quyền lực xã hội, đạo đức hoặc tôn giáo đe dọa sự tự nhận thức của đối tượng giao tiếp. Ví dụ: “Anh là một công dân có ý thức chấp hành pháp luật thì anh phải luôn thực hiện đúng quy định”.

+ Lý lẽ: Tập trung vào các yếu tố xung đột có thật, sử dụng lý lẽ để giải thích một người đã sai như thế nào, bỏ qua khía cạnh cảm xúc của xung đột. Ví dụ: “Theo luật, anh đã sai rồi, anh chẳng làm gì được để thay đổi đâu”.

+ Làm yên lòng: Cố gắng che giấu mọi thứ và khẳng định vấn đề không quá tồi tệ với mọi người là từ chối từ cảm xúc mà người đó đang trải qua. Ví dụ: “Đừng lo lắng về việc đó, anh là người tốt, tôi đảm bảo anh đã làm việc đó là đúng”.

+ Khuyên nhủ: Nói với một người nào đó rằng người đó nên giải quyết vấn đề như thế nào trước khi bạn hiểu một cách đầy đủ về vấn đề, đó là một rào cản mà rào cản đó có nghĩa là bạn không tin về kiến thức và kinh nghiệm của người đó. Ví dụ: “Tôi nghĩ bác nên từ chối lời đề nghị của gia đình cô ta bởi vì bác có quyền có những đề nghị tốt hơn”.

Thay vào đó, Hòa giải viên cần lắng nghe và đặt câu hỏi đối với các bên tranh chấp. Tất nhiên Hòa giải viên không chỉ có lắng nghe và đặt câu hỏi, nhưng cả hai việc lắng nghe hiệu quả và đặt câu hỏi là những yếu tố cần thiết để hiểu quan điểm của các bên về các vấn đề và động lực, mong muốn tiềm ẩn của họ. Hiểu các bên và tranh chấp của họ là bước đầu tiên của quá trình hòa giải.

b) Kỹ năng lắng nghe:

Việc thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe sẽ giúp Hòa giải viên xây dựng lòng tin của các bên đối với mình, từ đó, khuyến khích các bên chia sẻ trung thực, cởi mở, đầy đủ về suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của mình.

- Yêu cầu của việc lắng nghe:

+ Sự tham gia: Hòa giải viên cần chào đón và khuyến khích các bên chia sẻ thông tin qua hỗ trợ không lời như duy trì tư thế chào mừng, ngả người về phía trước, sắc mặt biểu lộ sự quan tâm, tập trung lắng nghe.

+ Diễn đạt lại hoặc tóm lược: Hòa giải viên không đánh giá phần trình bày của các bên, nói rõ trong lời nói của chính mình việc bạn đã hiểu người nói như thế nào.

+ Nhận biết cảm xúc: Hòa giải viên không đánh giá phản ứng của các bên về sự tranh chấp, chấp nhận yếu tố cảm xúc của các bên.

Khi lắng nghe hiệu quả, Hòa giải viên chứng tỏ được sự quan tâm của mình đối với vụ việc, giúp các bên cảm thấy hiểu nhau, khuyến khích các bên suy nghĩ về lời nói của họ và xây dựng được lòng tin của các bên đối với hòa giải viên.

- Kỹ năng lắng nghe hiệu quả:

Để lắng nghe hiệu quả, Hòa giải viên cần lưu ý một số kỹ năng sau:

+ Duy trì sự vô tư và không nghiêng về một phía;

+ Không đồng tình và cũng không phản đối những chia sẻ của các bên;

+ Tập trung vào vấn đề các bên trình bày và diễn đạt lại theo cách của riêng bạn;

+ Đặt bản thân mình vào vị trí của người khác để hiểu anh hoặc chị ấy đang nói gì và cảm giác của anh hoặc chị ấy thế nào;

+ Không ngắt lời, đưa ra lời khuyên hay gợi ý trong khi bạn đang lắng nghe.

- Những điều cần tránh khi lắng nghe:

Trong quá trình lắng nghe, Hòa giải viên cần tránh những điều sau đây:

+ Nghe và phán xét: Chỉ trích, đặt ra những giả định, chỉnh lý, dạy bảo về mặt đạo lý, chất vấn, tranh luận với đối tượng trong khi họ đang trình bày,…;

+ Không nên có điệu bộ, cử chỉ (như  lắc đầu, cau có mặt mày, nheo mắt…), lời nói tỏ thái độ phủ định hay khó chịu khi đối tượng trình bày dài dòng, không logic, khó hiểu hoặc đặt ra nhiều câu hỏi không có liên quan đến vụ việc…;

+ Không nên buồn bực hay cáu giận khi các bên có cử chỉ hoặc lời nói làm mình không hài lòng bởi đó là những bức xúc nhất thời của họ.

c) Kỹ năng yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc:

Để thực hiện việc khai thác thông tin, tài liệu về vụ việc, Hòa giải viên chủ yếu sử dụng câu hỏi để thu thập thông tin, tìm hiểu nhận thức và khai thác các vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên tranh chấp.

Không nên đặt câu hỏi hoặc quá rộng và không tập trung, hoặc quá hẹp và hạn chế, dẫn tới câu trả lời mơ hồ không đúng trọng tâm nội dung cần tìm hiểu.

Để sử dụng các câu hỏi hiệu quả, một điều rất quan trọng là Hòa giải viên phải hiểu các dạng câu hỏi và cách sử dụng nó một cách hợp lý. Có các loại câu hỏi sau đây:

- Câu hỏi đóng:

Các câu hỏi đóng là dạng câu hỏi có đưa ra các phương án trả lời sẵn để người được hỏi lựa chọn, hoặc câu hỏi dưới dạng Có/Không. Các câu hỏi đóng chỉ nhằm mục đích có được các chi tiết cụ thể từ đối tượng, nhưng hình thức của câu hỏi này không cho phép mở rộng các phản hồi hay các thông tin bổ sung. Chúng không tạo ra cơ hội cho việc biểu lộ cảm xúc của người được hỏi hoặc biểu đạt đầy đủ nội dung chính của vấn đề. Dù vậy, các câu hỏi đóng này cũng rất hiệu quả trong việc lấy được các thông tin cụ thể mà Hòa giải viên hướng đến. Các câu hỏi sau đây thể hiện dạng câu hỏi đóng:

+ “Chị đã báo cáo chính quyền địa phương về hành vi cư xử bạo lực của chồng chị chưa?”

+ “Anh ta có thường xuyên hành hung chị không?”

+“Anh ta có thường xuyên say xỉn không?”

- Các câu hỏi mở:

Câu hỏi mở là dạng câu hỏi để cho người trả lời được tự do đưa ra ý kiến của mình, do đó thông tin thu thập được phong phú, đa dạng. Câu hỏi mở giúp duy trì đàm thoại mở, cho phép đối tượng biểu lộ cảm xúc và cung cấp các chi tiết khác liên quan đến trường hợp của họ, cũng như các thông tin phù hợp trong từng ngữ cảnh. Các câu hỏi mở rất hữu ích trong việc đạt được mô tả chung về một tình huống, cho phép thăm dò để hiểu rõ hơn tình hình hoặc suy nghĩ của đối tượng. Các câu hỏi sau đây thể hiện dạng câu hỏi mở:

+ “Hằng ngày, anh ấy đối xử với chị như thế nào?”

+ “Khi chị tức giận như vậy thì anh ta phản ứng ra sao?”

+ “Chị mô tả chuỗi sự việc xảy ra có được không?”

- Các câu hỏi chủ đạo:

Các câu hỏi chủ đạo (còn gọi là câu hỏi áp đặt) là câu hỏi ép đối tượng đưa ra câu trả lời theo một cách nào đó. Những câu hỏi này gồm những giả định hoặc áp đặt suy nghĩ, cho phép làm tăng cơ hội phản hồi từ đối tượng theo cách nào đó. Câu hỏi này áp đặt quan điểm nhất định trong một tình huống và nếu Hòa giải viên không cẩn thận, họ có thể tạo ra phản ứng bất hợp pháp hoặc sự khiêu khích từ phía đối tượng. Các câu hỏi sau đây thể hiện dạng câu hỏi chủ đạo:

+ “Anh có thật sự tin lời giải thích của bà ấy không?”

+ “Anh từng bao giờ thử tìm cách nói chuyện với ông ấy chưa?”

+ “Anh có nghĩ rằng mình nên báo công an ngay khi sự việc bắt đầu không?”

- Câu hỏi có tính chỉ dẫn:

Câu hỏi có tính chỉ dẫn là những câu hỏi khuyến khích đối tượng suy nghĩ về hành động hoặc giải pháp tiềm năng. Tuy nhiên, câu hỏi như vậy thường có hiệu quả nhất khi được sử dụng một cách cởi mở mà họ không đẩy đối tượng tới một giải pháp cụ thể đối với một hoặc gợi ý một hành động. Vai trò của Hòa giải viên không phải để cố gắng giải quyết vấn đề của đối tượng, mà là để cung cấp tư vấn pháp luật giúp đối tượng giải quyết các vấn đề của riêng họ. Các câu hỏi sau đây thể hiện dạng câu hỏi có tính chỉ dẫn:

+ “Chị nghĩ chị sẽ nhờ ai cùng mình nói chuyện với anh ấy không?”

+ “Anh đã thử sử dụng những cách nào để thỏa thuận với ông ấy?”

- Các câu hỏi thăm dò (nhằm tìm kiếm sự thật):

Câu hỏi thăm dò là những câu hỏi được sử dụng như bước kế tiếp dựa trên một câu hỏi ban đầu để có thêm thông tin từ đối tượng. Thông thường chúng được sử dụng kết hợp với câu hỏi mở. Các đối tượng sẽ bắt đầu mô tả một tình huống, và các Hòa giải viên sau đó có thể thăm dò thêm để gợi ra những điểm nổi bật dựa trên phản ứng ban đầu của đối tượng. Các câu hỏi sau đây thể hiện dạng câu hỏi thăm dò:

+ “Anh có thể kể thêm về người đàn ông mà anh thấy đi cùng ông A ngày hôm đó?”

+ “Làm thế nào mà anh lại nghĩ như vậy về ông ấy?”

Thăm dò có thể là một trong những công cụ quan trọng nhất để các Hòa giải viên pháp luật sử dụng khi phỏng vấn đối tượng. Để việc thăm dò thông tin hiệu quả, người Hòa giải viên có thể tiến hành các bước nhỏ sau đây:

* Thăm dò không dùng lời nói: Cách thăm dò không dùng lời nói có thể cho phép tạo không khí thoải mái cho đối tượng từ đó bạn có thể tập trung vào các thông tin mà bạn muốn họ phát triển thêm. Ví dụ, bằng cách nhướn lông mày của bạn và hơi nghiêng đầu, bạn có thể gửi một thông điệp là bạn rất quan tâm tới một vấn đề cụ thể mà đối tượng vừa nói đến và sau đó họ có thể đưa thêm nhiều thông tin chi tiết hơn về vấn đề này.

* Cách im lặng trong khi trao đổi với đối tượng:Im lặng cũng có thể rất hiệu quả như là một phương tiện để khuyến khích thêm thông tin từ đối tượng. Bằng cách tạm dừng mà không nói bất cứ điều gì sau khi đối tượng đã hoàn thành một phản ứng là cách ngầm khuyến khích đối tượng tiếp tục câu chuyện của mình.

* Thăm dò để làm rõ khái niệm: Thăm dò có thể được sử dụng để các đối tượng suy nghĩ thêm những gì họ đang tìm kiếm thông qua việc tư vấn pháp luật, cũng như giúp Hòa giải viên hiểu rõ hơn vấn đề đang tìm hiểu. Câu hỏi hiệu quả sẽ giúp các đối tượng chứng minh các khái niệm đằng sau lập luận của họ và để họ có câu trả lời sâu hơn. Như: “Tại sao anh lại nói thế?”; “Điều này chính xác có ý nghĩa gì?”; “Điều này liên quan gì đến vấn đề chúng ta đang nói?”;…

2.2. Kỹ năng xem xét, xác minh vụ việc

a) Kỹ năng yêu cầu cung cấp chứng cứ

Sau khi đưa ra lời khuyên (tư vấn) chính xác, đúng pháp luật, cảm hóa, thuyết phục được đối tượng thì Hoà giải viên phải đề nghị đối tượng cung cấp đầy đủ các tài liệu (nếu có) phản ánh nội dung và diễn biến của vụ việc tranh chấp.

Trong thực tiễn, Hoà giải viên khó có thể đưa ra những lời khuyên (tư vấn) chính xác nếu chỉ nghe đối tượng trình bày.

Đối với những tranh chấp đơn giản, rõ ràng, sau khi nghe các bên trình bày, Hoà giải viên có thể phân tích, giải thích, hướng dẫn được ngay cho đối tượng.

Đối với những vụ việc phức tạp, đã diễn ra trong một thời gian dài, vụ việc đã được một số cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân can thiệp hoặc giúp đỡ giải quyết, nhưng các bên tranh chấp vẫn không hài lòng và tiếp tục tranh chấp, thì phải yêu cầu các bên cung cấp các chứng cứ và tài liệu có liên quan (nếu có) đến nội dung và diễn biến vụ việc (thông thường Hòa giải viên nhận bản sao chụp các giấy tờ, tài liệu đó sau khi đã đối chiếu với bản chính).

Trong trường hợp cần thiết, Hoà giải viên phải tự mình tìm hiểu, thu thập chứng cứ, gặp gỡ các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã từng tham gia giúp đỡ giải quyết, gặp người chứng kiến nghe họ trình bày về diễn biến và nội dung vụ việc mà họ biết được. Chỉ có như vậy thì Hoà giải viên mới có thể hiểu biết được bản chất vụ việc, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, từ đó đưa ra lời tư vấn chính xác, đúng pháp luật, thuyết phục được các bên tranh chấp tự nguyện giải quyết bất đồng.

Trong phần lớn các vụ việc tranh chấp thường có các tài liệu, văn bản, thư từ giao dịch… liên quan đến vụ việc. Những giấy tờ, tài liệu này là những chứng cứ pháp lý thể hiện nội dung, bản chất của vụ việc hoặc phản ánh diễn biến và quá trình giải quyết tranh chấp. Trong thực tiễn, có những vụ việc đối tượng chỉ trình bày vụ việc một cách chung chung, chưa muốn cung cấp cho Hoà giải viên những văn bản, chứng cứ mà họ cho rằng không có lợi cho mình. Hoà giải viên cần thuyết phục để họ cung cấp đầy đủ. Nếu các bên tranh chấp không cung cấp những tài liệu này thì việc hoà giải khó có thể xác định nội dung vụ việc chính xác và đúng bản chất, đúng pháp luật.

Sau khi đối tượng đã cung cấp đầy đủ các văn bản, tài liệu có liên quan, Hòa giải viên cần dành thời gian để đọc, nghiên cứu các giấy tờ, tài liệu đó, trong khi đọc có thể đồng thời hình thành luôn giải pháp trên cơ sở sắp xếp các tài liệu theo tầm quan trọng của vấn đề đưa ra. Có những tài liệu Hoà giải viên không hiểu, không đọc được hoặc nghi ngờ về tính chân thực của nó thì cần hỏi lại đối tượng để khẳng định ngay. Trường hợp sau khi nghe đối tượng trình bày và nghiên cứu các tài liệu do đối tượng cung cấp thấy chưa thể đưa ra lời khuyên ngay được mà phải có thời gian nghiên cứu thì hẹn tư vấn cho đối tượng vào một ngày khác. Trong mọi trường hợp, khi chưa thực sự tin tưởng về giải pháp mà mình sẽ đưa ra cho đối tượng thì Hoà giải viên không nên vội vàng đưa ra giải pháp đó.

b) Kỹ năng xác minh vụ việc:

Đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật hoặc đã được nhiều cơ quan, tổ chức cá nhân giúp đỡ giải quyết mà các bên vẫn không thoả thuận được với nhau trong cách giải quyết tranh chấp hoặc sau khi đã nghe cả hai bên trình bày, xem xét các giấy tờ, tài liệu các bên cung cấp, Hoà giải viên thấy chưa đủ cơ sở để tư vấn đưa ra những giải pháp, Hòa giải viên cần phải tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, gặp gỡ, tiếp xúc với các cơ quan, tổ chức và những người có liên quan để tìm hiểu rõ bản chất vụ việc, tránh vội vàng đưa ra những kết luận phiến diện, chủ quan.

Quá trình xác minh vụ việc đòi hỏi Hoà giải viên phải thực sự khách quan, vô tư, nhất là khi tiếp xúc với những người có lợi ích liên quan trong vụ việc hoặc thân quen với một bên tranh chấp. Thông thường, những người này luôn bảo vệ, đưa ra những thông tin có lợi cho mình hoặc người thân quen của mình. Vì vậy, Hoà giải viên cần khéo léo đề nghị những người có liên quan cung cấp những thông tin, tài liệu chính xác, trung thực. Trong quá trình tiếp xúc với những người này, Hòa giải viên có thể lập biên bản làm căn cứ giúp hòa giải vụ việc.

2.3. Kỹ năng tìm mâu thuẫn, xung đột lợi ích cốt lõi, nguyên nhân chủ yếu

Những tranh chấp phát sinh trong cuộc sống thường ngày có thể được biểu hiện dưới một hình thức cụ thể nào đó, nhưng nguyên nhân sâu xa của nó có thể là những vấn đề hoàn toàn không có liên quan đến nội dung tranh chấp. Nói cách khác, các bên trong quan hệ tranh chấp phát sinh có thể sử dụng hình thức tranh chấp này để giải quyết một mâu thuẫn khác. Ví dụ: Hai hộ gia đình có mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày nhưng lại phát sinh mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức tranh chấp về quyền sử dụng đất. Nếu Hòa giải viên chỉ hướng nội dung hòa giải đến việc xác minh vấn đề sử dụng đất thì sẽ không giải quyết được ngọn nguồn của mâu thuẫn.

 Để tìm ra mâu thuẫn, các xung đột lợi ích cốt lõi và nguyên nhân chủ yếu của vụ việc, Hòa giải viên cần liên tục đặt ra những câu hỏi tại sao lại như vậy đối với các thông tin, tình tiết của vụ việc mà mình được tiếp nhận.

a) Các loại lợi ích trong mâu thuẫn, tranh chấp:

Thông thường, một mâu thuẫn, tranh chấp có các loại lợi ích sau đây:

- Lợi ích định đoạt:

+ Đây là những vấn đề về vật chất như tiền bạc, nguồn lực và thời gian.

+ Chúng là “những thứ” mọi người muốn dành được trong một vụ mâu thuẫn, tranh chấp.

+ Các lợi ích định đoạt liên quan đến việc áp dụng các quy định pháp luật trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.

- Lợi ích thủ tục:

+ Đây là những lợi ích liên quan đến mọi việc được làm như thế nào, các quyết định được đưa ra như thế nào và các tranh chấp được giải quyết ra sao.

+ Lợi ích thủ tục liên quan đến ý kiến của các bên tranh chấp về sự công bằng, bình đẳng và sự tham gia.

- Lợi ích tâm lý:

+ Các lợi ích này liên quan đến các nhu cầu về xúc cảm của các bên tranh chấp như nhu cầu được tôn trọng, tin tưởng, thừa nhận, ghi nhận và xác nhận tư cách, vị thế.

+ Lợi ích tâm lý có thể rất mạnh mẽ, đôi khi chúng có thể mạnh hơn cả các lợi ích định đoạt.

+ Các bên tranh chấp dường như ít để lộ ra các lợi ích tâm lý bởi do tâm lý thường e ngại khi chia sẻ những nhu cầu về cảm xúc cá nhân.

Lợi ích thủ tục hoặc lợi ích tâm lý có thể được giấu kín khi một giải pháp được đưa ra đáp ứng các loại lợi ích định đoạt của một bên tranh chấp nhưng bên tranh chấp này vẫn chưa thỏa mãn (trong những trường hợp này, các lợi ích thủ tục hoặc có lẽ là các lợi ích tâm lý dường như không được đề cập đến).

Đối với từng lợi ích, tồn tại một số giải pháp thỏa mãn lợi ích đó. Thu thập thông tin về lợi ích của các bên tranh chấp cho phép hòa giải viên khám phá ra các vấn đề, tạo cơ hội để đưa ra các giải pháp cho vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp.

Tìm hiểu về lợi ích cũng giúp xác định những người liên quan đến mâu thuẫn, tranh chấp. Các giải pháp giải quyết tranh chấp cần đề cập đến các lợi ích luật định (pháp lý), tuy nhiên chúng cũng phải đáp ứng các nhu cầu tâm lý (tình cảm) và các nhu cầu thủ tục của các bên tranh chấp. Điều này cho phép tìm ra một số giải pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp và tạo ra nhiều lựa chọn đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các bên tranh chấp. Nắm bắt đúng lợi ích cốt lỗi dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp, giúp tìm được các giải pháp thích hợp, kết quả là các giải pháp giải quyết tranh chấp trở nên bền vững (giải quyết được cái “gốc” của vấn đề).

Làm cách nào chúng ta biết được lợi ích của các bên tranh chấp là những lợi ích gì?

Lắng nghe các bên giúp họ bộc lộ tình huống và suy nghĩ thấu đáo hơn về những động lực của họ trong vụ tranh chấp. Các Hòa giải viên cần bảo đảm phát triển các kỹ năng lắng nghe hiệu quả. Bên cạnh đó, để làm rõ thêm thông tin về các lợi ích, Hòa giải viên cần có kỹ năng đặt câu hỏi.

b) Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp:

- Do vấn đề truyền đạt:

Sự thiếu thông tin (rào cản giao tiếp) là một trong những nguyên nhân gây ra xung đột, do kĩ năng lắng nghe chưa tốt, chia sẻ thông tin không đầy đủ, khác biệt trong cách giải thích và nhận thức vấn đề, hay các biểu hiện phi ngôn từ bị bỏ qua hoặc không được nhận biết. Nội dung của người nói được người nghe hiểu không hoàn toàn chính xác. Mức độ không chính xác càng cao càng có nguy cơ gây ra những hiểu lầm.

Ví dụ: Một người không truyền đạt thông tin rõ ràng cho hàng xóm của mình về việc sử dụng nhờ phương tiện giao thông của anh ta. Khi anh ta thực hiện hành vi sẽ làm cho quan hệ giữa hai người trở nên căng thẳng, điều này có thể dẫn đến xung đột giữa hai gia đình.

- Sự phụ thuộc lẫn nhau trong công việc:

Sự phụ thuộc lẫn nhau đối với công việc xảy ra khi hai hay nhiều người phụ thuộc lẫn nhau để hoàn thành công việc của họ và tiềm năng xung đột tăng lên khi mức độ phụ thuộc lẫn nhau tăng lên. Có ba hình thức phụ thuộc lẫn nhau đối với công việc sau đây:

+ Sự phụ thuộc lẫn nhau khi cùng làm việc với nhau: Nhiều người phối hợp với nhau cùng thực hiện một công việc nhằm hoàn thành nhiệm vụ, về tổng thể được gọi là sự phụ thuộc lẫn nhau khi cùng làm việc với nhau.

+ Sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính nối tiếp nhau: Khi một người không thể thực hiện công việc của mình nếu người trước đó không kết thúc. Sự phụ thuộc này diễn ra phổ biến trong quá trình sản xuất. Ví dụ trong hoạt động vận tải, người sửa xe không hoàn thành công việc sẽ dẫn tới người lái xe không thể làm được việc của mình.

+ Sự phụ thuộc qua lại lẫn nhau: Loại này xảy ra đối với những nhiệm vụ nối tiếp nhau khi mỗi người phụ thuộc vào việc thực hiện hoạt động của người khác. A phụ thuộc vào B và C. Trong khi B và C phụ thuộc lẫn nhau và cũng phụ thuộc vào A.

- Mục tiêu không tương đồng:

Mục tiêu cá nhân của các thành viên cộng đồng không thể giống nhau do lợi ích khác nhau. Khi có những hoạt động ảnh hưởng tới không gian, thời gian chung của cộng đồng sẽ dễ dàng này sinh mâu thuẫn.

- Sử dụng đe dọa:

Khi không có sự đe dọa hầu như các cá thể sẽ hợp tác nhiều hơn. Mức xung đột tăng lên khi một bên có sự đe dọa đối với phía bên kia.

- Do khan hiếm nguồn lực:

Khả năng xung đột sẽ tăng lên trong những điều kiện khan hiếm. Khi các nguồn lực bị giới hạn, các cá thể bị đẩy vào cuộc cạnh tranh mang tính thắng thua và những cuộc cạnh tranh như vậy thường dẫn đến xung đột.

2.4. Kỹ năng tra cứu, tìm kiếm văn bản pháp luật, tìm kiếm giải pháp tư vấn cho các bên

a) Kỹ năng tra cứu, tìm kiếm văn bản pháp luật:

Trong quá trình hoà giải, một hoạt động hết sức quan trọng và mang tính quyết định của Hoà giải viên là tư vấn pháp luật (giải đáp pháp luật, cung cấp thông tin pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp, đưa ra những lời khuyên, hướng dẫn các bên xử sự phù hợp với pháp luật…). Để đưa ra lời tư vấn pháp luật chính xác, việc tra cứu tài liệu pháp luật trong quá trình hoà giải là yêu cầu bắt buộc bởi vì:

Thứ nhất, để khẳng định với các bên tranh chấp rằng Hoà giải viên đang thực hiện hoà giải theo pháp luật, trên cơ sở pháp luật chứ không phải theo cảm tính chủ quan.

Thứ hai, việc tra cứu tài liệu pháp luật có liên quan đến vụ việc hoà giải sẽ giúp Hoà giải viên khẳng định những lời tư vấn của mình là đúng pháp luật vì trong thực tiễn, không phải bao giờ Hoà giải viên cũng có thể nhớ chính xác tất cả các quy định thuộc các lĩnh vực pháp luật khác nhau.

- Nguyên tắc khi tra cứu, tìm kiếm văn bản pháp luật, quy phạm pháp luật:

+ Bảo đảm tính hiệu lực: Văn bản pháp luật, quy phạm pháp luật được tra cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc phải đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm xảy ra vụ việc (tại thời điểm nảy sinh vụ việc, văn bản pháp luật nào đang điều chỉnh và quy phạm pháp luật nào có hiệu lực áp dụng).

+ Bảo đảm tính chính xác: Các văn bản, điều luật Hòa giải viên tra cứu, áp dụng trong giải quyết tình huống phải được trích dẫn chính xác, bảo đảm hiểu đúng quy định pháp luật.

+ Bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện: Hòa giải viên phải tìm kiếm đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan đến giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp; việc tìm kiếm, tra cứu đầy đủ các điều luật liên quan sẽ như một chiếc chìa khóa để xử lý tốt các chứng cứ, giải quyết hết được các mối quan hệ pháp luật trong vụ việc, làm căn cứ để đưa ra giải pháp tối ưu trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên. Bên cạnh những điều luật quy định trực tiếp về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong vụ việc, Hòa giải viên còn phải tìm kiếm các điều luật khác có liên quan (đó là những điều luật không trực tiếp điều chỉnh quan hệ của các bên trong vụ việc nhưng phải tìm hiểu điều luật này để hiểu rõ, đầy đủ, toàn diện hơn về các điều luật điều chỉnh trực tiếp nội dung vụ việc).

Ví dụ: Khi hòa giải tranh chấp về xác định cha, mẹ, Hòa giải viên cần tìm hiểu quy định của pháp luật về vấn đề này. Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“ 1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”.

Để làm rõ điều này, cần tìm hiểu quy định của pháp luật giải thích thế nào là thời kỳ hôn nhân và tìm hiểu quy định của Chính phủ hướng dẫn việc xác định cha, mẹ cho con được sinh theo phương pháp khoa học.

- Nguồn tra cứu, tìm kiếm văn bản quy phạm pháp luật:

+ Tra cứu, tìm kiếm các văn bản pháp luật được in trên giấy từ các nguồn sau:

Tài liệu pháp luật của cá nhân Hòa giải viên (tự thu thập, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, hỗ trợ);

Sách, tài liệu pháp luật tại tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn.

Sách, tài liệu pháp luật tại hệ thống thư viện ở địa phương.

Tra cứu, tìm kiếm bằng Internet: Để bảo tính chính xác của văn bản pháp luật được tra cứu, tìm kiếm qua mạng internet, Hòa giải viên phải lựa chọn các trang web uy tín, tin cậy. Một trong số các trang dữ liệu pháp luật quan trọng và chính xác, có thời gian cập nhật nhanh là: Trang web văn bản của Chính phủ: vanban.chinhphu.vn; Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp: www.moj.gov.vn; Trang web hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Văn phòng Quốc hội: vietlaw.gov.vn; Trang chủ quản của đơn vị ban hành văn bản: Ví dụ, tìm kiếm văn bản về đất đai có thể vào cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường: www.monre.gov.vn; tìm kiếm văn bản trong lĩnh vực tài chính có thể vào cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn; Các trang tra cứu văn bản pháp luật như: Thuvienphapluat.vn; Luatvietnam.vn.

b) Kỹ năng tìm kiếm giải pháp tư vấn cho các bên:

Để bảo đảm thành công của một cuộc hòa giải, Hòa giải viên phải tìm ra được giải pháp tư vấn hợp tình, hợp lý cho các bên. Quá trình tìm kiếm giải pháp tư vấn cho các bên cần phải dựa trên ba yếu tố:

Một là, hệ thống bằng chứng của vụ việc;

Hai là, cơ sở pháp lý, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, luật tục, hương ước, quy ước;

Ba là, lập luận (các luận điểm phân tích, chứng minh).

- Kỹ năng xử lý bằng chứng để xác định đúng nội dung và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp:

Từ những bằng chứng thu thập được trong quá trình tìm hiểu nội dung vụ việc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp (do các bên, những người khác có liên quan cung cấp, do Hòa giải viên tự tìm hiểu, thu thập), Hòa giải viên cần xử lý để xác định đâu là bằng chứng cần thiết, có giá trị dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của các bên là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc. Kết thúc quá trình này, Hòa giải viên ghi khái quát lại diễn biến của vụ việc, nguyên nhân (kèm theo hệ thống bằng chứng liên quan).

Đây là công việc quan trọng trong quá trình hòa giải vụ việc. Nếu những phân tích, lập luận của Hòa giải viên dựa trên những bằng chứng không chuẩn xác, không có giá trị, thì sẽ không thuyết phục được các bên, ảnh hưởng tới hiệu quả hòa giải.

- Kỹ năng xác định hệ thống quy định pháp luật, quy tắc đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, luật tục, hương ước, quy ước để giải quyết vụ việc:

+ Xác định hệ thống quy định pháp luật áp dụng:

 Trên cơ sở nội dung vụ việc, Hòa giải viên liệt kê các điều luật liên quan đến nội dung vụ việc, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên:

 (1) Các điều luật quy định trực tiếp về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong vụ việc;

 (2) Các điều luật khác có liên quan. 

Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong giải quyết vụ việc phải tuân thủ nguyên tắc theo quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Cụ thể như sau:

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Giá trị pháp lý của chúng cao thấp khác nhau do vị trí của cơ quan nhà nước trong bộ máy Nhà nước quy định (văn bản của cơ quan quyền lực nhà nước có giá trị pháp lý cao hơn văn bản của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, ví dụ: Văn bản quy phạm pháp luật do HĐND cấp tỉnh ban hành có giá trị pháp lý cao hơn văn bản quy phạm pháp luật do UBND cấp tỉnh; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có giá trị pháp lý cao hơn văn bản của cơ quan cấp dưới, ví dụ: văn bản quy phạm pháp luật do UBND cấp tỉnh ban hành có giá trị pháp lý cao hơn văn bản quy phạm pháp luật do UBND cấp huyện ban hành…).

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

+ Xác định các quy tắc đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, luật tục, hương ước, quy ước:

Xã hội truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng đức trị của Nho giáo, nên người dân Việt Nam (đặc biệt là người dân sống ở khu vực nông thôn) rất coi trọng giá trị đạo đức. Các quan hệ xã hội bị chi phối mạnh bởi quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống. Vì vậy, bên cạnh yếu tố pháp luật, Hòa giải viên cần xác định, liệt kê cụ thể các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán, các quy định trong hương ước, quy ước của thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư có liên quan trực tiếp đến nội dung vụ việc để làm căn cứ phân tích, lập luận, thuyết phục, hướng dẫn các bên tìm giải pháp giải quyết bất đồng, tranh chấp.

Khi áp dụng phong tục, tập quán, luật tục, hương ước, quy ước để hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp, Hòa giải viên cần lưu ý đó phải là những phong tục, tập quán tốt đẹp; không trái nguyên tắc của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội.

* Lưu ý:

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, trong đó quy định Danh mục Các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xóa bỏ và cấm áp dụng.

- Kỹ năng xây dựng giải pháp cho xung đột, mâu thuẫn:

Trên cơ sở bằng chứng thu thập được, các quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp, Hòa giải viên sử dụng các thao tác sau đây để đưa ra giải pháp tư vấn cho các bên trong tranh chấp, xung đột.

+ Phân tích nội dung vụ việc, nguyên nhân mâu thuẫn, tranh chấp: Chia tách thành các vấn đề tranh chấp cụ thể để đi sâu xem xét một cách toàn diện (có thể chia tách theo từng vấn đề, mỗi vấn đề cần đi sâu xem xét cụ thể hành vi ứng xử của mỗi bên).

+ Đọc, nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan: Bằng các lý lẽ, cắt nghĩa để hiểu rõ, hiểu đúng khái niệm, quy định của pháp luật.

+ So sánh, đối chiếu giữa quy định của pháp luật với nội dung vấn đề tranh chấp từ đó xem xét theo quy định của pháp luật, thì giải pháp nào là tốt nhất cho các bên, bảo đảm tốt nhất, hài hòa nhất quyền lợi, nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định của pháp luật, đó phải là giải pháp “các bên cùng có lợi”, “tối ưu cho tất cả các bên”, “trên cơ sở lẽ phải, lẽ công bằng”, không có “bên thắng, bên thua”.

+ Lập luận cho giải pháp mình đưa ra: Chuẩn bị trước cách thức mình sẽ trình bày giải pháp trước các bên, bảo đảm rõ ràng, trung thực vấn đề được bình luận, đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá của mình là xác đáng. Thể hiện rõ chủ kiến của mình, không mập mờ, khó hiểu.

2.5. Kỹ năng chuẩn bị tổ chức, điều hành, kiểm soát buổi hòa giải

a) Kỹ năng chuẩn bị tổ chức buổi hòa giải:

Bao gồm các hoạt động sau:

- Lập danh sách những người tham gia buổi hòa giải;

- Dự kiến thời gian, địa điểm tổ chức buổi hòa giải;

- Gửi thông báo, giấy mời cho những người tham gia buổi hòa giải;

- Dự kiến chương trình buổi hòa giải;

- Chuẩn bị các giấy tờ, tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

b) Kỹ năng điều hành buổi hòa giải:

Điều hành phiên Hòa giải phải đảm bảo nội dung đã dự tính. Nghi thức buổi hòa giải cần thực hiện đơn giản gọn nhẹ, nên biểu hiện tình cảm làng xóm, họ hàng, gia đình... để giảm căng thẳng cho các bên khi tham dự. Các nội dung được Hòa giải viên trình bày tại buổi hòa giải phải tập trung, ngắn gọn và súc tích.

Hòa giải viên dành thời gian cho các bên tham gia đưa ra quan điểm, ý kiến nhưng cần thông báo cho họ thời gian giới hạn cho việc trình bày để tránh lan man mất thời gian và hướng vào vấn đề trọng tâm. Người điều hành phải kiểm soát thời gian, sao cho vừa đảm bảo nội dung, vừa linh hoạt theo diễn tiến thực tế của phiên hòa giải, không quá máy móc, cứng nhắc.

Đảm bảo tính dân chủ, công bằng trong phiên hòa giải: Các nội dung trình bày của các bên phải hết sức ngắn gọn để dành thời gian cho người khác đưa ra ý kiến. Vấn đề nào xét thấy có mức độ ít liên quan đến nội dung vụ việc thì Hòa giải viên cần chủ động dừng tranh luận và hướng các bên quay trở lại nội dung chính. Vấn đề nào có tác dụng tích cực tới tất cả các bên để có thể tìm ra tiếng nói chung thì Hòa giải viên cần tập trung khai thác, định hướng các bên vào vấn đề đó.

Điều hành tập trung, có điểm nhấn, có trọng tâm: Việc sắp xếp nội dung, việc xem xét các nội dung vụ việc, việc chọn người đưa ra ý kiến  góp phần tạo nên những trọng tâm của phiên hòa giải, đó cũng chính là điểm nhấn, dấu ấn của phiên hòa giải.

c) Kỹ năng kiểm soát buổi hòa giải:

Để có buổi hòa giải diễn ra trong kiểm soát, Hòa giải viên cần tổ chức và điều hành tốt buổi hòa giải. Ngoài ra cũng cần có một số kỹ năng để kiểm soát phiên hòa giải để tránh những tình huống đáng tiếc có thể xảy ra.

Để chuẩn bị cho việc đó Hòa giải viên cần đối xử nhạy cảm với các bên:

Cần thể hiện thái độ quan tâm và nhạy cảm khi nói chuyện với các đối tượng yếu thế (phụ nữ, người già, người tàn tật...). Vì một số người có thể miễn cưỡng khi cung cấp các thông tin chi tiết về vụ việc, do dự khi kể về vụ việc hoặc cố gắng rút lại lời khai về một số điểm. Một số người lại cảm thấy lo sợ họ có thể gặp khó khăn, bất lợi khi nói ra quan điểm của mình.

Người tiến hành hòa giải cần cung cấp trước cho các bên những thông tin có liên quan đến quá trình hòa giải để tránh sự hiểu lầm không đáng có và xây dựng niềm tin của họ.

Tạo ra không gian thân thiện và cởi mở để các bên có thể bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc cũng như quan điểm của họ về vụ việc. Tránh tạo không khí tiêu cực, khiến một số người có cảm giác như đang bị hỏi cung hay phán xét.

Hòa giải viên cần thể hiện sự đối xử tôn trọng với tất cả các bên. Khi cả hai bên đều có mặt tại buổi hòa giải, Hòa giải viên phải bảo đảm rằng không có bất cứ ai phải chịu áp lực hay bị đe dọa từ người khác.

Quan sát mọi thay đổi trong cách ứng xử của các bên so với buổi gặp sơ bộ ban đầu. Nếu một bên có dấu hiệu không thoải mái hoặc sợ hãi, người tiến hành hòa giải cần tạm dừng buổi hòa giải, dành thời gian gặp riêng từng bên để xem xét lại các tình tiết và chứng cứ của vụ việc.

Trong quá trình phân tích vụ việc và đi đến thống nhất cách giải quyết tại buổi hòa giải, Hòa giải viên cần lưu ý:

- Khi phân tích vụ việc, cần bảo đảm rằng người tiến hành hòa giải đã có được mọi tài liệu có liên quan đến vụ việc hiện tại và trong quá khứ.

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan để bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc pháp luật. Nếu chưa chắc chắn, hãy tham khảo ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật có liên quan.

Đối với vụ việc có phát sinh bạo lực, Hòa giải viên cần nhấn mạnh rằng không được dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp; đồng thời cần cảnh báo cho người gây bạo lực biết họ có thể bị áp dụng những chế tài mạnh hơn nếu tiếp tục gây ra bạo lực.

Việc xử lý đối với người gây bạo lực có thể bao gồm cả việc tiếp cận và điều trị cho họ (trong trường hợp người gây bạo lực nghiện rượu hoặc ma túy). Việc hòa giải nên tiếp cận dưới góc độ hỗ trợ và bảo vệ bên yếu thế.

Các cách ứng phó, hóa giải xung đột mà Hòa giải viên có thể sử dụng để kiểm soát, định hướng buổi hòa giải:

Sự né tránh: Đây là cách khi gặp xung đột thì né tránh sự va chạm, đối đầu với mâu thuẫn, không quan tâm đến nhu cầu của các bên, thua cũng không sao. Cách này dễ tạo ra kết quả các bên cùng chấp nhận dừng tranh chấp để giữ hòa khí, nhưng nguy cơ bùng phát tranh chấp vẫn tiềm ẩn.

Sự nhường nhịn, xoa dịu: Cách nàv quan tâm đến giữa các mối quan hệ chứ không cần quan tâm đến kết quả quyền lợi. Vì vậy khi các bên giải quyết xung đột theo kiểu này có thể hy sinh quyền lợi của mình nhưng giữ được mối quan hệ thân thiện với bên kia và mọi người khác trong cộng đồng.

Sự thỏa hiệp: Mỗi bên trong tranh chấp có thể phải hy sinh một chút quyền lợi để đạt được một số quyền lợi khác. Họ cùng nhau tìm những giải pháp trung hòa để đôi bên cùng có một phần lợi ích. Có thể tạo ra kết quả cùng thắng hoặc cùng thua thiệt.

Sự hợp tác: Cách này coi trọng cả mục đích và mối quan hệ. Các bên hợp tác với nhau tìm ra giải pháp tốt nhất cho cả đôi bên, chú trọng sự đồng thuận. Tất cả các bên phải cùng theo đuổi tìm kiếm giải pháp tốt cho các bên chứ không chỉ cho một bên. Cách này tạo ra được kết quả cả hai bên đều thắng.

2.6. Kỹ năng giải thích, thuyết phục, hướng dẫn các bên tự thỏa thuận dàn xếp mâu thuẫn, tranh chấp

Thuyết phục các bên tự nguyện thoả thuận, giải quyết tranh chấp là nghệ thuật hoà giải, đòi hỏi Hoà giải viên phải có kiến thức pháp luật có liên quan đến lĩnh vực tranh chấp, có kỹ năng hoà giải, có uy tín, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm cuộc sống, biết vận dụng pháp luật và đạo đức xã hội để thuyết phục các bên đi đến thoả thuận giải quyết tranh chấp.

Thuyết phục các bên tự nguyện giải quyết tranh chấp được Hoà giải viên thực hiện trong suốt quá trình hoà giải.

Về thực chất, thuyết phục là việc hòa giải viên đưa ra lời khuyên, hướng dẫn cách ứng xử (nên làm gì và không nên làm gì) để các bên chấp nhận, đồng ý những lời khuyên của Hòa giải viên, tự lựa chọn phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một cách tốt nhất.

Muốn thực hiện tốt việc thuyết phục các bên, trước hết Hoà giải viên cần phải đưa ra giải pháp, phương án… để tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột; trong đó xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ việc, hành vi nào các bên được làm và những hành vi nào pháp luật cấm; phân tích những hành vi nào phù hợp với pháp luật, với đạo đức xã hội và hành vi nào trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội, nêu rõ hậu quả pháp lý mà các bên phải gánh chịu nếu tiếp tục tranh chấp và đưa ra định hướng giải quyết tranh chấp để các bên xem xét, thảo luận, tự lựa chọn và quyết định. Một điều quan trọng là trong quá trình hòa giải, Hòa giải viên cần phải luôn kết hợp cả tình và cả lý để phân tích, giải thích, thuyết phục các bên tranh chấp hòa giải với nhau.

Muốn thuyết phục các bên tranh chấp thương lượng thành công, đạt được thỏa thuận, Hòa giải viên cần lưu ý một số điểm sau:

- Luôn thông cảm và tôn trọng đối tượng: Khi phân tích, giải thích cho các bên biết hành vi của họ là đúng hay sai, Hòa giải viên cần phải xây dựng không khí gần gũi và tin tưởng, cảm thông và tôn trọng đối tượng, luôn có thái độ ân cần, chia sẻ, nhiệt tình, cần phải làm cho không khí nói chuyện được vui vẻ, chan hòa. Như vậy, đối tượng sẽ lắng nghe ý kiến thuyết phục của hòa giải viên. Khi thuyết phục đối tượng mà nói được những suy nghĩ, trăn trở của họ, dễ đạt được kết quả mong muốn. Muốn thế mọi lý lẽ, thuyết phục của hòa giải viên phải xuất phát từ lập trường của các bên tranh chấp mà suy nghĩ và đặt vấn đề, đưa ra giải pháp tối ưu cho các bên tranh chấp, hợp tình, hợp lý. Nếu Hòa giải viên không biết tôn trọng đối tượng, ra vẻ ta đây hơn người, chì chiết, mang tính dạy bảo thì chắc chắn cuộc hòa giải sẽ không thành công.

- Khơi gợi cho các bên tranh chấp những tình cảm tốt đẹp vốn có giữa họ  (tình cảm gia đình, tình cảm hàng xóm, tình cảm bạn bè…) để họ dễ thông cảm cho nhau.

- Đưa ra những chứng cứ, ví dụ cụ thể: Điều thuyết phục đối tượng tốt nhất là hòa giải viên cần đưa ra được những ví dụ, những chứng cứ minh họa cụ thể cho phân tích, lập luận của mình.

- Cần phải kiên trì thuyết phục, không nên nôn nóng: Hòa giải viên cần phải suy nghĩ chín chắn, đắn đo câu nói, nói cái gì trước, cái gì sau, điều gì không nên nói. Ngoài ra, cần phải bình tĩnh, kiên trì giải quyết từng bước, nhất là đối với những người có thái độ ngoan cố.

2.7. Kỹ năng ghi chép của Hòa giải viên; ghi sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở; lập văn bản hòa giải thành, văn bản hòa giải không thành

a) Kỹ năng ghi chép của Hòa giải viên:

Hòa giải viên cần phải ghi chép đầy đủ các thông tin liên quan đến vụ việc để lưu giữ các thông tin cần thiết làm cơ sở tiến hành hòa giải vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp. Nội dung ghi chép bao gồm:

- Nội dung cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với từng bên tranh chấp;

-  Nội dung trao đổi giữa Hòa giải viên với những cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan;

- Ý kiến tư vấn của những người được mời tham gia hòa giải (những người có uy tín trong dòng họ ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ việc; đại diện của cơ quan, tổ chức liên quan hoặc người có uy tín khác);

- Diễn biến buổi hòa giải.

Yêu cầu ghi chép:

- Trung thực, đầy đủ, chính xác và chi tiết các nội dung, tình tiết sự việc, ý kiến và số liệu.

- Chú ý vào các vấn đề trọng tâm của vụ việc.

Trong quá trình ghi chép, Hòa giải viên cần lưu ý một số kỹ năng cụ thể sau:

- Ghi những điều có giá trị: Chỉ nên ghi lại những thông tin có giá trị, đây chính là cách ghi chép chủ động; cần quyết định điều gì có giá trị để ghi lại, đừng cố ghi lại nguyên văn cuộc đối thoại, không cần ghi lại những thứ không cần thiết, chỉ ghi lại những ý kiến và sự kiện quan trọng, không phải mọi thứ đều có giá trị.

- Không cần đẹp nhưng phải thật rõ ràng: Không cần phải viết ngay ngắn, sạch đẹp. Không nên quá chú ý đến các lỗi chính tả và các lỗi ngữ pháp. Điểm quan trọng là phải viết thật rõ ràng và dễ hiểu. Bạn cần sắp xếp thông tin một cách có tổ chức để bảo đảm có thể hiểu ngay khi đọc lại, chú trọng quá nhiều vào hình thức ghi chép sẽ mất tập trung lắng nghe.

- Không nên quá chú ý đến các lỗi chính tả và các lỗi ngữ pháp.

- Có thể để chừa lại nhiều khoảng trống trong sổ ghi chép để điền thêm những gì quên trong quá trình trao đổi, tìm hiểu vụ việc.

- Sử dụng hệ thống viết tắt, các biểu tượng, bảng biểu, sơ đồ, hình ảnh, đánh số:

+ Để ghi chép nhanh, hòa giải viên có thể sử dụng hệ thống viết tắt, các biểu tượng.

+ Để kích thích khả năng ghi nhớ của mình, Hòa giải viên nên thể hiện thông tin ghi chép được dưới dạng bảng biểu, sơ đồ, hình ảnh minh họa, đánh số, gạch chân cho những ý chính, ý trọng tâm cho dễ hiểu, dễ nhớ.

- Đừng ngần ngại khi đặt câu hỏi cho người trình bày: Khi chưa hiểu rõ ý của một người nào đó, Hòa giải viên đừng ngần ngại, hãy đặt câu hỏi để làm sáng tỏ thông tin, bảo đảm nội dung ghi chép chuẩn xác, trung thực.

- Nếu được người đối thoại cho phép, hòa giải viên có thể ghi âm lại.

b) Kỹ năng ghi Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở:

Theo Điểm d Khoản 2 Điều 28 Luật hòa giải ở cơ sở và Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, ngày 21/4/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành mẫu Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở tại Quyết định số 889/QĐ-BTP. Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở có ký hiệu: TP/HG-2014-TDHĐ và được sử dụng thống nhất trên khổ giấy 210 x 297 mm.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi Sổ của Hòa giải viên, mẫu Sổ được thiết kế theo dạng bảng và gồm 11 cột như sau:

- Cột 1: Số thứ tự của vụ, việc hòa giải đã thực hiện trong năm.

- Cột 2: Ngày, tháng năm nhận vụ, việc hòa giải.

- Cột 3: Ngày, tháng năm thực hiện hòa giải.

- Cột 4: Họ và tên, tuổi, địa chỉ các bên, người có liên quan đến vụ, việc hòa giải (nếu có)

- Cột 5: Họ và tên Hòa giải viên, người chứng kiến việc hòa giải, người được mời tham gia hòa giải (nếu có)

- Cột 6: Nội dung chủ yếu của vụ, việc và yêu cầu của các bên

- Cột 7: Thỏa thuận của các bên (hoặc yêu cầu của mỗi bên) sau khi hòa giải

- Cột 8, 9: Kết quả hòa giải

- Cột 10: Chữ ký của hòa giải viên; người chứng kiến việc hòa giải; người được mời tham gia hòa giải (nếu có)

- Cột 10: Ghi chú

Việc ghi Sổ được thực hiện như sau:

- Hòa giải viên ghi các thông tin về vụ, việc đã thực hiện hòa giải liên tiếp theo thứ tự từng trang, không được bỏ trống. Nội dung ghi phải chính xác, chữ viết phải rõ ràng. Nếu có sai sót khi ghi chép, thì người ghi chép trực tiếp gạch bỏ phần sai sót, ghi chép lại. Cụ thể như sau:

+ Cột 1: Thứ tự các vụ, việc được ghi chép theo năm tính từ ngày 01/01 cho đến hết ngày 31/12; bắt đầu từ số 01 và ghi liên tục đến hết năm. Trong trường hợp chưa hết năm mà sử dụng sang sổ khác, thì Hòa giải viên phải lấy tiếp số thứ tự cuối cùng của sổ trước, không được ghi từ số 01. Đối với sổ được sử dụng tiếp cho năm sau, thì Hòa giải viên ghi vụ, việc hòa giải đầu tiên của năm sau tại trang mới và bắt đầu từ số 01.

+ Cột 6: Ghi tóm tắt mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật đã được hòa giải; nguyên nhân của mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật; yêu cầu của các bên…

+ Cột 7: Ghi thỏa thuận của các bên trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận; hoặc ghi yêu cầu của mỗi bên trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận.

+ Cột (8, 9): Đánh dấu (x) vào ô tương ứng với kết quả hòa giải.

- Tổ trưởng Tổ hòa giải phải giữ gìn, bảo quản, lưu trữ Sổ, không được để nhòe hoặc rách nát. Khi thôi giữ nhiệm vụ, Tổ trưởng Tổ hòa giải phải bàn giao Sổ cho người kế nhiệm. Khi hết năm theo dõi, Tổ trưởng Tổ hòa giải có trách nhiệm thóng kê tổng số vụ, việc đã thực hiện hòa giải; tổng số vụ, việc đã hòa giải thành và hòa giải không thành; ký, ghi rõ họ tên và xin chữ ký, đóng dấu xác nhận của UBND cấp xã.

c) Lập văn bản hòa giải thành, văn bản hòa giải không thành:

- Văn bản hòa giải thành:

Trong trường hợp các bên thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành, Hòa giải viên có thể giúp các bên lập văn bản này gồm các nội dung chính sau đây:

+ Căn cứ tiến hành hòa giải: Nêu rõ việc hòa giải được thực hiện trong trường hợp nào.

+ Thông tin cơ bản về các bên: Họ và tên, tuổi, địa chỉ các bên, người có liên quan đến vụ, việc hòa giải (nếu có).

+ Nội dung chủ yếu của vụ, việc: Ghi tóm tắt mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật đã được hòa giải; nguyên nhân của mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật.

+ Diễn biến của quá trình hòa giải: Ghi tóm tắt quá trình tổ chức hòa giải vụ việc (tổ chức gặp gỡ từng bên, tổ chức buổi hòa giải giữa các bên - thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung: ý kiến hòa giải viên, ý kiến từng bên).

+ Thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên: Ghi rõ giải pháp hai bên thống nhất để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp. Trong đó, nêu rõ để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, hai bên đã thống nhất quyền và nghĩa vụ của từng bên như thế nào.

+ Phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận: Nêu cách thức, phương pháp và thời hạn thực hiện thỏa thuận.

+ Chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của Hòa giải viên.

- Văn bản hòa giải không thành:

Trường hợp các bên yêu cầu lập văn bản hòa giải không thành, thì Hòa giải viên lập văn bản hòa giải không thành gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

+ Căn cứ tiến hành hòa giải: Nêu rõ việc hòa giải được thực hiện trong trường hợp nào.

+ Thông tin cơ bản về các bên: Họ và tên, tuổi, địa chỉ các bên, người có liên quan đến vụ, việc hòa giải (nếu có).

+ Nội dung chủ yếu của vụ, việc: Ghi tóm tắt mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật đã được hòa giải; nguyên nhân của mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật.

+ Diễn biến của quá trình hòa giải: Ghi tóm tắt quá trình tổ chức hòa giải vụ việc (tổ chức gặp gỡ từng bên, tổ chức buổi hòa giải giữa các bên - thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung: ý kiến hòa giải viên, ý kiến từng bên).

+ Yêu cầu của mỗi bên về từng vấn đề tranh chấp sau khi hòa giải.

+ Lý do hòa giải không thành: Nêu lý do chủ yếu dẫn đến việc hai bên không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp.

+ Chữ ký của Hòa giải viên.

2.8. Kỹ năng lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trình hòa giải ở cơ sở

Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoà giải khác với tuyên truyền miệng về pháp luật ở chỗ chỉ khi nào có vụ, việc vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra và trong quá trình tiến hành hoà giải vụ việc đó, Hòa giải viên kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cho các bên mâu thuẫn, tranh chấp và những người có liên quan. Vì vậy, phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở đây là phương thức tác động trực tiếp từ chủ thể (Hòa giải viên) đến đối tượng (các bên mâu thuẫn, tranh chấp và những người khác) với nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật xác định, gắn liền với từng mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật cụ thể...

Để thực hiện tốt phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở, Hoà giải viên cần thực hiện các bước sau đây:

Bước 1. Trực tiếp nắm rõ nội dung mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp và yêu cầu cụ thể của các bên tranh chấp, kết hợp việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật.

Việc nắm rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp sẽ tạo điều kiện để Hoà giải viên có phương pháp hoà giải đúng, vận dụng, viện dẫn, các điều luật phù hợp với nội dung tranh chấp xảy ra đồng thời có căn cứ giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp hiểu được hành vi của mình đúng hay sai, vi phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật… để các bên hiểu và tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương.

Trong khi tiến hành hòa giải, trường hợp các bên tranh chấp có yêu cầu về cung cấp, giới thiệu các văn bản pháp luật liên quan đến tranh chấp, mâu thuẫn này để họ nghiên cứu, xem xét thì Hoà giải viên giúp đỡ, hoặc hướng dẫn các bên mâu thuẫn, tranh chấp tìm đọc và hiểu đúng tinh thần của quy định pháp luật có liên quan. Trường hợp cần thiết, Hòa giải viên có thể tham khảo ý kiến của những người có trình độ pháp lý (công chức cấp xã, luật gia, luật sư, công chức tư pháp - hộ tịch… đảm bảo các quy định pháp luật, quy phạm đạo đức vận dụng vào vụ, việc hòa giải là đúng, chính xác. Trong bước này, Hoà giải viên có thể khéo léo lồng ghép với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho các bên tranh chấp hiểu về quyền và nghĩa vụ của họ giúp họ hiểu đúng và tự giác thực hiện pháp luật.

Bước 2. Xác định tính chất của tranh chấp, lựa chọn văn bản có liên quan đến tranh chấp để vận dụng các quy định đó vào việc giải quyết tranh chấp.

Sau khi nắm rõ nội dung tranh chấp, Hoà giải viên cần tìm hiểu xem quan hệ tranh chấp này được văn bản pháp luật nào điều chỉnh? Đây là một công việc khó, đòi hỏi hoà giải viên phải lựa chọn đúng điều luật để áp dụng vào vụ, việc hòa giải cụ thể. Nếu lựa chọn sai điều luật điều chỉnh có thể dẫn đến việc phổ biến, giáo dục pháp luật không đúng và ảnh hưởng đến kết quả hoà giải cuối cùng. Vì thế, để lựa chọn các văn bản pháp luật phù hợp, Hoà giải viên phải căn cứ vào tính chất của tranh chấp. Ví dụ: Đối với các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp, Hoà giải viên lựa chọn, áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; hoặc đối với tranh chấp, mâu thuẫn giữa các cá nhân, các gia đình trong quan hệ xóm giềng liên quan đến sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ thì hòa giải viên phải xem xét các quy định của Bộ luật dân sự...

Ở bước này, khi đã rõ văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, Hoà giải viên có thể đối chiếu, phân tích các quy định của pháp luật về vấn đề mà các bên đang mâu thuẫn, tranh chấp cần biết, cần hiểu để họ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với pháp luật. Trong trường hợp gặp những quy định pháp luật khó hiểu, hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp luật để được hướng dẫn, giải thích đúng và đầy đủ.

 Bước 3. Hòa giải viên cần gặp gỡ từng bên tranh chấp để hòa giải kết hợp với việc giải thích pháp luật giúp họ nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong quá trình trao đổi, Hòa giải viên phải kiên nhẵn lắng nghe ý kiến, hiểu tâm lý của các bên mâu thuẫn, tranh chấp, cố gắng không dùng lời lẽ khó hiểu, thuật ngữ pháp lý chuyên ngành mà bằng lời giải thích pháp luật giản đơn, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, sau cùng dùng lời lẽ phân tích cho họ thấy các quy định của pháp luật liên quan đến tranh chấp, để mỗi bên tranh chấp nhận thức được cái đúng, cái sai của mình và đi đến phương án giải quyết phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của Nhân dân.

Trong trường hợp cần thiết, Hòa giải viên có thể cung cấp cho đối tượng những thông tin chính xác để xóa bỏ những quan điểm lệch lạc, sai trái, phiến diện, giúp đối tượng hiểu đúng, lựa chọn đưa ra những quyết định cụ thể, đúng đắn phù hợp với pháp luật. Trường hợp, một trong các bên tranh chấp có thái độ gay gắt, nóng nảy, bất hợp tác, hòa giải viên phải bình tĩnh, lắng nghe (không ngắt lời, khó chịu, sốt ruột...), giữ thái độ bình tĩnh, đúng mực, tỏ ra thông cảm, quan tâm đến yêu cầu của đối tượng... đồng thời, lựa chọn phương án xử lý linh hoạt, tiếp tục hòa giải hay để vào dịp khác nhằm giải tỏa không khí bớt căng thẳng mà mục tiêu của  hòa giải vẫn đạt được.

Trường hợp khi hòa giải nếu có những quy định pháp luật khó hiểu, Hòa giải viên có thể đối chiếu, phân tích các quy định của pháp luật về các vấn đề đang tranh chấp, lấy ví dụ minh hoạ, liên hệ với những sự việc đã xảy ra ở địa phương mà các bên tranh chấp cũng biết rõ. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Hòa giải viên có thể nêu các phương án giải quyết của mình để các bên tham khảo.

Khi các bên thống nhất được cách thức giải quyết tranh chấp, nếu cần thiết, Hòa giải viên có thể giúp các bên tranh chấp lập văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của các bên làm cơ sở cho việc thi hành sau này.

 Như vậy, trong khi tiến hành hòa giải các bên tranh chấp, Hòa giải viên có rất nhiều cơ hội để lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, nhấn mạnh những quy định mấu chốt của pháp luật nếu các bên tranh chấp nghiêm chỉnh trong ứng xử của mình thì sẽ tránh được tranh chấp xảy ra. Đồng thời, qua đó các bên tranh chấp và những người có liên quan có thể được nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật từ đó hạn chế những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ xảy ra.

II. MỘT SỐ VỤ VIỆC ĐIỂN HÌNH HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1. Vụ việc hòa giải trong lĩnh vực dân sự

1.1. Ngõ đi chung không của riêng ai

a. Nội dung vụ việc

Ngõ đi chung của ba hộ ông T, ông Đ và ông H được hình thành từ rất lâu năm, từ đời cụ kỵ, cha ông của ba ông. Các gia đình này có mối quan hệ ruột thịt máu mủ trải qua các thế hệ. Hộ ông Đ, ông T, ông H cùng mở cổng nhà đi ra ngõ chung gần nhau. Đầu năm 2014, con trai ông T sửa lại nhà và đã có xây mi cửa sổ sang đất ngõ giáp nhà ông Đ mà không có ý kiến gì với hộ ông Đ, nên hai bên lời qua tiếng lại.

Vào tháng 10/2014, con trai ông Đ làm lại công trình phụ, đã tận dụng đoạn ngõ cụt liền giáp với gia đình mình để lợp tôn sát mi cửa sổ của hộ ông T làm nơi đun bếp củi sắc thuốc, đoạn ngõ cụt vẫn được mở thông đi ra cùng ngõ với hai nhà kia. Trong quá trình đun, khói bếp tạt sang cửa sổ nhà ông T, ảnh hưởng đến sức khoẻ những người trong gia đình ông T. Đã có vài lần ông T sang có ý kiến, nhưng con trai ông Đ cho rằng, ngõ đi là của nhà mình và việc đun nấu không làm ảnh hưởng đến ai, nên bỏ qua ý kiến của gia đình ông T. Từ  đó, hai bên gia đình đã có những rạn nứt về tình cảm.

Sau sự việc xảy ra, ông T đã gặp đại diện tổ hòa giải của thôn và đề nghị tổ hòa giải tại cơ sở giúp hai bên gia đình đi đến hòa thuận, ổn định việc sử dụng ngõ chung, cũng như không làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của những người trong gia đình.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi tiếp nhận đề nghị của ông T, hòa giải viên đã đến nắm bắt tình hình vụ việc giữa hai gia đình, tìm hiểu nguyên nhân, ý kiến, nguyện vọng các bên.

Tiếp đó, hòa giải viên đã gặp gỡ công chức chuyên môn của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã, đề nghị cung cấp thông tin về thửa đất hai nhà và ngõ đi, cùng những quy định của pháp luật liên quan đến việc sử dụng ngõ đi chung, để có căn cứ cho việc hòa giải.

Tại buổi hòa giải ở Nhà văn hóa thôn, tổ hòa giải đã mời trưởng thôn, đại diện người cao tuổi cùng tham gia hòa giải.

Sau khi nghe tóm tắt nội dung vụ việc, những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn và nguyện vọng của hai bên gia đình, ý kiến các đại biểu được mời, hòa giải viên đã phân tích như sau:

+ Về mặt pháp lý: Phân tích để hai bên biết được quy định của Bộ luật dân sự về sử dụng ngõ đi chung, tôn trọng nguồn gốc quá trình sử dụng của các hộ từ nhiều năm nay. Cái ngõ này được sử dụng chung cho các hộ gia đình đang sinh sống ở khu vực đó, các gia đình khi có nhu cầu sử dụng trên ngõ đi chung thì phải được sự đồng ý nhất trí của các hộ xung quanh, có quyền và phải có nghĩa vụ trong việc quản lý sử dụng ngõ đi chung. Việc con trai ông T tự ý xây mi cửa sổ ra ngõ đi chung mà không có ý kiến của các hộ xung quanh là sai và có lời nói không phù hợp với người lớn tuổi là không nên. Gia đình ông Đ tự cho quyền được lợp mái tôn trên đất ngõ đi chung để làm nơi đun bếp ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ thành viên trong gia đình ông T cũng là việc làm không đúng. Vì mỗi người chỉ được làm những gì thuộc quyền của mình nhưng không được làm ảnh hưởng đến người khác, đến môi trường xung quanh.

+ Về tình cảm: Các bên gia đình có nguồn gốc họ hàng thân thích từ trước cho đến nay, ngõ đi do cha ông để lại, con cháu và các thế hệ sau này được thừa hưởng, cần phải tôn trọng và có trách nhiệm bảo ban nhau cùng quản lý, giữ gìn, củng cố tình cảm họ hàng, tình làng xóm “tắt lửa tối đèn” có nhau.

Các hòa giải viên tham dự đưa ra ý kiến phân tích, khuyên giải các bên và xác định mâu thuẫn vụ việc xuất phát từ những hiểu biết cá nhân còn hạn chế, nên hai nhà đã không trao đổi, thống nhất ý kiến với nhau.

Các hòa giải viên yêu cầu ông Đ, ông T nên khuyên bảo các con tôn trọng tình cảm vốn có giữa các gia đình, tình đoàn kết trong họ hàng, cũng như với mọi người xung quanh, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp. Đó cũng là cơ sở để tạo điều kiện cho các thế hệ con cháu sau này sống tốt với nhau hơn; yêu cầu hai bên gia đình chấm dứt những lời qua tiếng lại, để gắn kết tình cảm họ hàng, làng xóm, ổn định an ninh trật tự trong thôn xóm.

Từ những nội dung phân tích của hòa giải viên, ông Đ, ông T đã hiểu và nhận lỗi của mình khi để xảy ra sự việc. Ông Đ, con trai ông Đ công nhận việc tự ý lợp tôn làm mái tạm sát với nhà ông T, gây ảnh hưởng đến hộ liền kề là sai, sẽ khắc phục ngay việc làm đó để không ảnh hưởng đến hộ ông T. Ông T nhất trí và mong muốn hai gia đình sẽ được bình thường lại như trước kia. Hai bên đồng ý ký biên bản hòa giải, cùng thực hiện.

Buổi hòa giải kết thúc trong sự đồng thuận, vui vẻ của mọi người tham gia.

1.2. Rừng là tài sản quốc gia

a. Nội dung sự việc

Gia đình anh C và anh P được giao 2 héc ta đất để trồng rừng (ranh giới của hai nhà liền kề nhau). Trong diện tích đất của nhà anh P được giao có một số cây gỗ to rất quý (diện tích đất rừng nhà anh C được giao không có cây gỗ to) lại là nơi có nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt của cả bản. Một hôm, sau khi đã uống rượu, anh C đi về, thấy anh P đang làm đất trồng rừng, liền tuyên bố: "Tao sẽ chặt một số cây to ở đây, xẻ gỗ làm nhà và bán". Nghe vậy anh P đã nổi khùng và lớn tiếng trước mặt anh C và một số người có mặt hôm đó: có giỏi thì anh đến chặt đi, tôi mới là người có quyền chặt, xẻ gỗ vì đất rừng Nhà nước đã giao cho tôi, khu rừng ấy là thuộc quyền quản lý của tôi.

b. Quá trình hoà giải

Anh V là hoà giải viên đã tìm hiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh C và anh P là tranh chấp về quyền lợi trong quản lý, bảo vệ nguồn lợi từ rừng.

Anh V đã mời công an viên, cán bộ Tư pháp xã, cán bộ địa chính và trưởng thôn tới để giải quyết, giải tán đám đông, làm dịu tình hình căng thẳng giữa các bên, đề nghị anh C, anh P thật bình tĩnh, không nên to tiếng, cãi vã nhau.

Vận dụng các quy định của pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng để giải thích rõ cho anh C và anh P hiểu về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, gia đình trong việc bảo vệ rừng, khai thác, sử dụng, hưởng lợi từ rừng thuộc phạm vi mình được giao bảo vệ, chăm sóc. Anh C không có quyền canh tác, khai thác và hưởng lợi từ diện tích rừng mà anh P được giao, đang trực tiếp sử dụng, khai thác…. Anh P được giao đất rừng cũng có nghĩa vụ bảo vệ, chăm sóc rừng, không được tự ý khai thác lâm sản như gỗ, tre, nứa… chặt phá rừng lấy đất canh tác…; giải thích cho anh P và anh C rõ về lợi ích của rừng đầu nguồn là nhằm bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp nguồn nước sinh hoạt, thủy lợi… nên việc khai thác phải theo đúng kế hoạch, quy hoạch và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.

Hôm sau, anh V mời cả anh P và anh C lên trụ sở Uỷ ban nhân dân xã để tiếp tục hoà giải. Phân tích cho hai bên hiểu những quy định của Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng bằng những lời lẽ đầy tính thuyết phục.

Hai bên đã thừa nhận những thiếu sót, sai lầm của mình và cam kết chấm dứt mâu thuẫn.

1.3. Cho người khác vay tiền xây nhà không có nghĩa sẽ là chủ sử dụng mảnh đất có nhà đó?

a. Nội dung vụ việc

Bà C là người tàn tật một mình nuôi con là Đ. Năm 1989, theo chủ trương chung, bà được chính quyền địa phương cấp 82m2 đất để làm nhà ở và nộp lệ phí theo quy định. Đến năm 1997, các anh, chị, em của bà C, người góp của, người góp công xây dựng giúp bà C 2 gian nhà cấp 4 để hai mẹ con ở. Trong đó, ông T là em trai bà C có cho vay 4 chỉ vàng (đến nay do cuộc sống khó khăn nên bà C vẫn chưa trả). Năm 2005, chị Đ đi lấy chồng, bà C ở một mình. Năm 2006, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C, song vì bà bị tật nguyền, nên bà đã giao nhờ ông T đi lấy hộ và giữ hộ mình. Năm 2012, vợ chồng chị Đ mua vật liệu về sửa chữa lại nhà cho mẹ. Khi sửa xong, bắt goong cửa cổng, thì ông T ngăn cản, đập hỏng một bên goong cửa và không cho hoàn thiện, vì cho rằng ông đã bỏ tiền ra xây nhà thì sẽ là người chủ sử dụng mảnh đất trên, nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi nhận được thông tin có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra, tổ hòa giải thôn đã phân công hòa giải viên tìm hiểu sự việc và tiến hành hòa giải.

Hòa giải viên đã gặp gỡ tại nhà riêng của từng bên để thuyết phục, vận động các bên bình tĩnh thương lượng, hòa giải, mời hai gia đình về nhà bà C tiến hành hòa giải. Tại nhà bà C, ba người ông T, bà C, chị Đ đã nghe hòa giải viên phân tích, việc vợ chồng chị Đ sửa chữa lại nhà cho mẹ để bảo đảm cuộc sống tốt hơn, là em ông T phải thấy vui mừng vì cháu đã nghĩ đến mẹ, chăm sóc hiếu thảo với mẹ. Việc ông cho bà C vay tiền xây nhà thì bà C phải trả. Hơn nữa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho bà C nên bà C mới là chủ sử dụng mảnh đất. Sau khi nghe phân tích, ông T đã công nhận hành vi của mình là sai và xin lỗi bà C, cháu Đ. Đồng thời ông T cũng yêu cầu bà C thanh toán số vàng còn nợ của ông. Bà C và chị Đ hứa sẽ thu sếp trả nợ dần cho ông T và mong ông T thông cảm.

Tổ trưởng tổ hòa giải khuyên ông T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C, là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, ông T đã đồng ý.

1.4. Đòi thêm tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đỡ thiệt thòi

a. Nội dung vụ việc

Năm 2005, gia đình ông V bán cho ông H 1.284m2 đất màu với giá tiền là 5.670.000 đồng. Hai bên đã nhận tiền và giao đất sau khi hoàn tất thủ chứng thực chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại UBND xã. Sau khi nhận đất, ông H giao cho anh rể là ông T trực tiếp canh tác trồng nhãn từ đó đến nay. Thấy ông T trồng nhãn thu được nhiều lợi nhuận nên ông V tiếc, muốn đòi lại đất cho đỡ bị thiệt thòi, song ông T không đồng ý, nên hai bên xảy ra tranh chấp.

b. Quá trình hòa giải

Nhận được thông tin về tình hình vụ việc, tổ hòa giải đến gặp hai gia đình thuyết phục hai bên để hòa giải.

Bước đầu khi gặp gỡ gia đình ông V, tổ hòa giải thuyết phục, nhưng không được. Tổ hòa giải đã tiến hành xác minh, gặp gỡ trực tiếp các bên có liên quan và xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như sau: Ông V lợi dụng sơ hở là hai bên đã chuyển nhượng đất nhưng chưa tuân theo quy định của pháp luật về việc sang tên đổi chủ, nên đến nay thửa đất vẫn đứng tên ông V mà chưa sang tên cho ông H, nên làm đơn đòi đất trước đây đã bán, nhưng thực tế là đòi thêm tiền của ông H. Nếu ông H đồng ý đưa cho ông V thêm một ít tiền thì ông V sẽ  đồng ý hoàn tất thủ tục sang tên sổ đỏ.

Sau khi tham khảo ý kiến của các bên, tổ hòa giải nhận thấy: Ông V đòi đất nhưng thực chất là muốn đòi thêm tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đỡ thiệt thòi. Ông H có nguyện vọng tiếp tục canh tác trên thửa đất đã đầu tư trồng cây và hoàn thiện hồ sơ cấp sổ đỏ để yên tâm sản xuất. Trên cơ sở đó, tổ hòa giải đã định hướng, vận động, tuyên truyền, phân tích cho hai bên những thuận lợi, bất lợi nếu không tự thỏa thuận, hòa giải tại cơ sở.

Tổ hòa giải đã căn cứ quy định của pháp luật về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành để phân tích cho các bên, cụ thể:

(1) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ ông V và ông H là hợp pháp. Tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên đã tuân thủ đúng hình thức của hợp đồng là lập thành văn bản có chứng thực của UBND xã.

Như vậy, việc chuyển nhượng đã thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai năm 2003 là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất.

Sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hộ ông H phải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nộp thuế chuyển nhượng và làm các thủ tục khác để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng hộ ông H chưa thực hiện các nghĩa vụ nêu trên, nên chưa được sang tên sổ đỏ.

Sau khi tổ hòa giải thuyết phục được hai gia đình cùng gặp gỡ thống nhất bằng biên bản: Gia đình ông H trả cho gia đình ông V 4.000.000 đồng, hộ ông V có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ cho hộ ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Qua vụ việc trên cho thấy, muốn hòa giải đạt hiệu quả, hòa giải viên cần làm tốt công tác xác minh, thu thập chứng cứ của các bên có liên quan để thiết lập chứng cứ pháp lý; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các bên, tìm hiểu chính xác nguyên nhân phát sinh tranh chấp. Từ đó, định hướng, phân tích cho các bên hiểu những điểm mạnh, yếu của mình trên cơ sở pháp luật hiện hành để các bên tự lựa chọn phương án tối ưu khi giải quyết vụ việc, nếu hòa giải thành tại cơ sở thì được lợi gì, nếu hòa giải không thành mà khởi kiện tại Tòa án thì gặp phải những bất lợi gì theo quy định của pháp luật (ví dụ như: phải chịu án phí, thời gian theo kiện...).

1.5. Chặt cây trên đất của người khác

a. Nội dung vụ việc

Họ nhà ông Bùi Văn S ở xóm VK tổ chức xây mộ của dòng họ. Sát khu mộ của dòng họ nhà ông S có một số cây sà cừ nằm trên phần đất thuộc quyền sử dụng của nhà ông Bùi Văn D ở xóm GM. Nhà ông S cho rằng cây sà cừ rễ chùm, dễ đổ, sẽ ảnh hưởng đến khu mộ nhà mình nên khi xây khu mộ của dòng họ, ông S đã tự ý đốn hạ 02 cây sà cừ và đem bán mà không hỏi ý kiến ông D. Vì vậy, hai bên đã xảy ra tranh chấp. Ông D yêu cầu tổ hòa giải yêu cầu giải quyết.

b. Quá trình hòa giải

Khi nhận được yêu cầu của ông D, tổ hòa giải xóm GM đã phối hợp với tổ hòa giải xóm VK tiến hành tìm hiểu sự việc và xác định rõ mâu thuẫn giữa hai bên để cùng đưa ra hướng giải quyết.

Trên cơ sở nội dung vụ việc và quy định của pháp luật có liên quan, kết hợp với đạo lý truyền thống, tổ hòa giải đã tiến hành phân tích, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật, cũng như tiến hành phân tích, giúp các bên hiểu rõ bản chất vụ việc một cách thấu tình đạt lý.

Về mặt pháp lý, việc nhà ông S tự ý chặt cây trên phần đất nhà ông D mà không được phép của ông D là sai, xâm phạm quyền sở hữu của ông D. Ông D có quyền yêu cầu ông S bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm của mình gây ra.

Về mặt đạo lý, khu mộ của dòng họ nhà ông S ở sát phần đất nhà ông D, hai bên gia đình xóm trên, xóm dưới đều biết nhau cả. Hơn nữa, việc xây mộ tổ thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính ông bà tổ tiên, là đạo lý truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Do đó, giá như ông S tôn trọng ông D, trao đổi, hỏi ý kiến ông D, xin phép ông D được chặt hai cây sà cư sát khu mộ để không làm ảnh hưởng đến khu mộ thì mới phải nhẽ. Và chắc chắn ông D sẽ đồng ý, coi như đó là sự chia sẻ tình cảm với các cụ tổ tiên nhà ông S, mong các cụ phù hộ, độ trì cho các con các cháu ruột thịt cũng như hàng xóm láng giềng.

Sau khi nghe giải thích, phân tích, đại diện cho dòng họ ông S đã xin lỗi và hứa sẽ hoàn trả số tiền bán cây cho gia đình ông D; ông D đã chấp nhận lời xin lỗi và không yêu cầu phía dòng họ ông S phải trả tiền bán cây cho mình, mà thống nhất hai bên sẽ dùng số tiền này đóng góp vào việc xây dựng nhà văn hóa của xóm với mong muốn góp phần vào việc xây dựng thôn, xóm giàu đẹp.

1.6. Tranh chấp ranh giới giữa hai nhà

a. Nội dung vụ việc

Ranh giới giữa hai mảnh đất thổ cư của hộ gia đình bà Nguyễn Thị H và hộ gia đình ông Nguyễn Văn T không có bờ tường ngăn cách. Do vậy, ông T có trồng cây mít ở khu vực ranh giới này và cho rằng đây là phần đất nhà mình, còn theo bà H thì ông T đã trồng cây mít lấn sang phần đất nhà bà, nên hai bên xảy ra cãi vã, xô xát.

b. Quá trình hòa giải

Khi nhận được thông tin sự việc, tổ hòa giải đã tiến hành tìm hiểu, xác minh vụ việc hòa giải, phân tích cho hai bên hiểu rõ sự việc, nhưng cuộc hòa giải không thành.

Để chuẩn bị tiến hành hòa giải lần 2, tổ hòa giải đã đề nghị UBND xã cử công chức địa chính và công chức tư pháp - hộ tịch trực tiếp đến xóm phối hợp cùng tiếp tục hòa giải.

Tại buổi hòa giải lần thứ hai, tổ hòa giải đã phân tích nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tranh chấp giữa hai hộ là có thể giải quyết được nếu xác định được mốc giới thửa đất giữa hai hộ. Tổ hòa giải đề nghị hai hộ phải bình tĩnh để xem xét giải quyết vấn đề bằng tình cảm, hơn nữa, giữa hai gia đình còn mối quan hệ anh em, họ hàng đã lâu đời “tối lửa tắt đèn có nhau”.

Tổ hòa giải cũng nêu quy định tại Điều 265 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản liền kề, để các bên hiểu và thực hiện:

“1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp.

2. Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Trong trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng thì người sử dụng đất có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách”.

Sau khi nghe phân tích, khuyên nhủ, ông T có ý kiến: “Tôi cũng không muốn điều tiếng xấu xảy ra, vì từ trước đến nay giữa hai gia đình chúng tôi không có vấn đề gì, hiện nay chỉ vì bà H rào lấn sang đất nhà tôi, nên tôi đề nghị địa chính xã xác định giúp ranh giới đất giữa nhà tôi và nhà bà H cho cụ thể”. Ý kiến của bà H cũng đồng ý đề nghị cán bộ địa chính xác định lại ranh giới. Sau khi xác định lại ranh giới xong, hai hộ đã đồng ý và tiến hành cắm mốc, có sự chứng kiến của tổ hòa giải, cán bộ tư pháp - hộ tịch và cán bộ địa chính. Ngay buổi hòa giải hôm đó, ông T đã cho nhổ cây mít trồng lấn sang đất nhà bà H, để trả lại đất.

1.7. Vô ý làm đứt đuôi trâu của người khác có phải bồi thường?

a. Nội dung vụ việc

Sau khi đã cày xong ruộng, ông T lái máy cày lên bờ để đi ruộng khác. Khi lái máy lên bờ đi qua con trâu của gia đình bà B đang ăn cỏ ở gần đó, thì con trâu giật mình, nguẩy cái đuôi vào máy cày (phần dây curoa với bánh đà của máy cày) và bị cán đứt phần đuôi. Con bà B dắt trâu về nhà và phát hiện phần đuôi của trâu bỗng nhiên bị cụt, chảy máu nên đã đi hỏi rõ sự tình. Khi biết phần đuôi con trâu bị máy cày của nhà ông T cán đứt, bà B đến nhà ông T với thái độ bực dọc, la lối om sòm và yêu cầu gia đình ông T bồi thường 2 triệu đồng. Gia đình ông T cho rằng, việc đuôi con trâu bị đứt do va vào máy cày là chuyện không may, ông T không cố ý nên gia đình ông sẽ không bồi thường. Cả hai bên lời qua tiếng lại, không bên nào chịu nhường bên nào, xung đột ngày càng căng thẳng.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi nhận được tin báo, tổ hòa giải xóm C đã họp, thống nhất phương án giải quyết. Tổ hòa giải đã phân công hòa giải viên ra đồng gặp gỡ những người cùng làm trên cánh đồng để xác minh cụ thể sự việc và gặp gỡ hai bên gia đình để tìm hiểu, thuyết phục, giảng giải, phân tích đúng sai cho hai bên gia đình. Gia đình bà B vì tiếc công chăm sóc và xót con trâu nên đòi bồi thường là đúng. Tuy nhiên, việc máy cày của ông T vô tình cán đứt đuôi con trâu là việc xảy ra ngoài ý muốn của ông T. Bà B không nên vì tiếc của mà lời qua tiếng lại, gây mất an ninh trật tự, mất đoàn kết trong thôn xóm. Đối với ông T, dù việc lái máy cày cán đứt phần đuôi của con trâu là vô ý, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 604 và khoản 4 Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều 604 quy định, người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Điều 608 quy định, trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm: “…(4) Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”.

Từ đó, tổ hòa giải đề xuất, gia đình ông T hỗ trợ bà B một khoản tiền để mua thuốc chữa trị cho con trâu.

Sau khi nghe phân tích, đề xuất hướng giải quyết của tổ hòa giải, ông T và bà B đã nhất trí thỏa thuận ông T sẽ hỗ trợ bà B 400.000 đồng để mua thuốc chữa trị vết thương và chăm sóc con trâu đến khi lành vết thương. Sau một thời gian chăm sóc, con trâu đã lành vết thương. Tuy cái đuôi trâu không lành lại như trước, nhưng tình cảm của hai bên gia đình vẫn được giữ và ngày càng củng cố thêm.

c. Bài học kinh nghiệm

 Trước khi tiến hành hòa giải, hòa giải viên cần xác minh cụ thể vụ việc, lắng nghe ý kiến của các bên và những người xung quanh chứng kiến vụ việc để đảm bảo vụ việc hòa giải khách quan. Trong quá trình hòa giải, cần linh hoạt vận dụng các quy định của pháp luật và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân, tránh tình trạng chỉ vận dụng pháp luật sẽ dẫn đến sự khô khan, hoặc chỉ vận dụng phong tục tập quán sẽ thiếu sự thuyết phục đối với hai bên.

1.8. Cành ổi vươn sang đất nhà khác, quả thuộc về ai?

a. Nội dung vụ việc

Những cây ổi ở vườn sau nhà ông D có nhiều cành vươn sang phần đất nhà bà M. Đến mùa ổi chín, cháu B (con bà M) thường rủ bạn bè về nhà rồi dùng sào chọc ổi nhà ông. Ông D nhiều lần nhắc nhở, nhưng bọn trẻ vẫn không nghe lời, nên ông đã sang nói chuyện với bà M. Bà M cho rằng, quả ổi ở phần đất của ai thì người đó được hưởng. Mâu thuẫn nảy sinh giữa hai gia đình.

b. Quá trình hòa giải

Để tìm hiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, hòa giải viên đến tận nhà gặp gỡ ông D và bà M. Sau khi hiểu rõ nguyên nhân sự việc, đồng thời nghiên cứu quy định pháp luật dân sự, tổ hòa giải thôn đã hòa giải cho hai ông bà.

Hòa giải viên đã phân tích cho ông D hiểu việc để cành ổi vươn sang phần đất nhà bà M là không đúng với quy định của pháp luật dân sự, vì tại khoản 2 Điều  265 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

 Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt qúa, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

Tuy nhiên, hai gia đình là hàng xóm của nhau, “tối lửa tắt đèn” có nhau nên với tinh thần “bán anh em xa, mua láng giềng gần”,ông, bà cần bình tĩnh giải quyết vụ việc. Hòa giải viên cũng phân tích cho bà M thấy rằng bà cần phải có trách nhiệm khuyên bảo các cháu của bà không được tự ý chọc ổi bên phần đất nhà ông D. Việc làm này của các cháu đã được ông D nhắc nhở, nhưng các cháu không nghe lời người lớn như vậy là không ngoan.

Sau khi được hòa giải viên phân tích, ông D và bà M đã thống nhất cùng ngồi lại nói chuyện và thỏa thuận với nhau việc khai thác phần hoa lợi này. Theo đó, nhà bà M được khai thác phần quả vươn sang đất nhà mình mà không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất, cây cối bên nhà ông D. Bà M cũng hứa sẽ nhắc nhở các cháu chỉ được lấy những quả ổi ở những cành vươn sang đất nhà bà M, không được chọc lấy những quả bên nhà ông D.

1.9.Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác

a. Nội dung vụ việc

Trên đường dắt trâu về nhà, ông Trần Văn T ở tại thôn AB vào chơi nhà bạn. Mải vui chén rượu, ông quên không buộc trâu, để trâu vào phá một góc ruộng ngô đang kỳ trổ cờ của nhà bà Nguyễn Thị P - người cùng thôn. Bà P yêu cầu ông T phải đền toàn bộ thiệt hại, nhưng ông T chỉ chấp nhận đền cho bà một nửa, vì cho rằng ông không cố ý thả trâu vào phá ruộng ngô. Mỗi người một ý, chẳng ai chịu ai, mâu thuẫn giữa hai ông bà ngày càng gay gắt.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi tiếp nhận vụ việc, hòa giải viên đến gặp hai gia đình nhằm thuyết phục, giảng giải sự đúng sai của từng bên; đồng thời giải thích cho ông T hiểu, việc để trâu vào phá một phần ruộng ngô đang kỳ thu hoạch của bà P, cho dù là lỗi vô ý thì ông cũng phải đền bù cho bà P, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2005, chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác, nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.

Với bà P, hòa giải viên giải thích việc trâu nhà ông T vào phá ruộng là do ông T vô ý không buộc trâu, chứ không phải chủ động thả trâu vào phá ruộng. Hơn nữa, hai người còn là người cùng thôn. Thiệt hại xảy ra là ngoài ý muốn của hai gia đình, do vậy, việc bà đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại là không nên. Hai gia đình có thể thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, hình thức bồi thường cho đúng quy định của pháp luật và quy ước của thôn, nhằm giữ hòa khí và sự bình yên của thôn.

Hòa giải viên đã viện dẫn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2005 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

“1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”.

Sau khi nghe hòa giải viên phân tích, thuyết phục, bà P và ông T thống nhất phương án đền bù là 2/3 thiệt hại do trâu gây ra.

1.10. Ai được làm hồ sơ và hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ?

a. Nội dung vụ việc

Vợ chồng cụ A sinh được 10 người con, trong đó có một người đã hy sinh (liệt sỹ T). Chín người con còn lại, có 4 người sinh sống ở quê, 5 người đi làm ăn xa. Khi còn sống, hai cụ là người thờ cúng và hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ T. Năm 2014, các cụ lần lượt qua đời, song không di chúc lại cho ai sẽ thờ cúng liệt sĩ T. Thời gian qua, Ban Chính sách xã phổ biến cho gia đình làm hồ sơ để hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ T. Bốn anh em ở quê (ông M, ông Đ, ông B, ông K) đã tổ chức họp gia đình để làm hồ sơ, nhưng ông M không họp và cũng không làm hồ sơ (vì ông M hiện đang lưu giữ bản gốc bằng Tổ quốc ghi công của liệt sĩ T), nên ba người em thống nhất cử ông Đ làm hồ sơ và hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ T. Tuy nhiên, khi ông Đ được hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ T, thì ông M không đồng ý, nên phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi nhận được yêu cầu của ông M, tổ hòa giải thôn đã xem xét, tìm hiểu nguyên nhân sự việc. Tổ hòa giải đã mời công chức tư pháp và công chức chính sách xã tham dự, tư vấn pháp luật, đặc biệt là pháp luật về thừa kế và chính sách đối với người có công với nước.

Tại buổi hòa giải, tổ hòa giải đã nghe ý kiến trình bày cụ thể của các bên, công chức tư pháp xã phổ biến một số điều khoản trong pháp luật về thừa kế. Tổ hòa giải đã góp ý mang tính chất xây dựng với anh em ông M rằng, anh em máu mủ ruột già, đối với người đã mất (liệt sĩ T) thì đó còn là cái tâm, cái đức. Vợ chồng cụ A mất đi, không di chúc lại cho ai thờ cúng liệt sĩ T, mà trong cùng hàng thừa kế có 9 anh chị em ông M, hiện có 4 người ở nhà và 5 người ở xa. Nên phương án hòa giải đưa ra là 9 anh chị em ông M cần họp bàn thống nhất ai sẽ là người làm hồ sơ và hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ T. Đối với những người ở xa không về được, thì phải có giấy ủy quyền có xác nhận của UBND nơi cư trú. Nội dung giấy ủy quyền cần ghi rõ sẽ ủy quyền cho ai được hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ T. Sau khi có đầy đủ ý kiến của 9 anh chị em ông M, người được ủy quyền nhiều nhất sẽ hưởng chế độ và thờ cúng liệt sĩ T.

Phương án tổ hòa giải đưa ra đã được sự đồng tình của anh chị em ông M.

1.11. Kéo - tách đường dây điện sử dụng chung

a. Nội dung vụ việc

Ngày 25/01/2015, tổ hòa giải ấp 6, xã SR nhận được đơn xin hòa giải của ông Võ Văn T thường trú tại tổ 2 ấp 6 xã SR. Nội dung đơn có nêu: Nhiều gia đình sử dụng chung một đường dây điện, nên tải rất yếu, không phục vụ được việc tưới tiêu, làm ảnh hưởng đến kinh tế của một vài hộ trong nhóm. Ông T đại diện 3 hộ muốn tách riêng, nhưng khi làm hồ sơ, ông K (là người được cử làm tổ trưởng và đồng hồ điện chính được lắp đặt tại nhà ông K) không chịu ký vào giấy cho sử dụng chung trụ, do đó bên điện lực không tiến hành kéo điện cho 3 hộ này. Ông T đề nghị họp tổ điện gồm 7 hộ, nhưng ông K không dự, nên vụ việc các bên không tự giải quyết được.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi nhận được đơn của ông T, tổ hòa giải tiến hành mời 7 hộ gia đình trong tổ điện đến trụ sở ấp 6 để hòa giải.

Tại buổi hòa giải, ông T trình bày thêm: Trước đây, 7 hộ cùng nhau đóng góp tiền, công lao động để kéo điện về sử dụng chung, mỗi hộ đóng khoảng 6.500.000 đồng. Theo thỏa thuận ban đầu, cả tổ nhất trí cử ông K làm tổ trưởng và gắn đồng hồ điện kế chính tại nhà ông K, lần lượt mỗi hộ đứng ra thu và thanh toán tiền cho điện lực một tháng, cứ thế xoay vòng trong 7 hộ, nhưng chỉ được vài tháng, rồi ông K tự thu không giao lại cho các hộ khác như thỏa thuận. Phần vì trong quá trình sử dụng điện có hộ dùng ít, hộ dùng nhiều, nhưng đến kỳ tính tiền điện, ông K chỉ lấy số tổng kWh điện nhân số tiền và chia cho các hộ sử dụng bao nhiêu kWh thì trả bấy nhiêu tiền, không phân ra mức 1, mức 2 nên không công bằng. Nay yêu cầu ông K phải ký tên vào đơn cho sử dụng chung đường trụ và tính lại số tiền đóng góp trước đây trừ khoản tiền công, tiền vật tư đồng hồ điện còn lại chia 7 phần, ai tách riêng thì giao trả người đó hoặc trả lại cho mỗi hộ tách riêng 2 triệu đồng như đã giao trả cho 2 hộ đấu ké điện.

Tiếp đến, ông K đại diện 4 hộ còn sử dụng điện chung phát biểu: Năm 2006, cả 7 hộ nhất trí đóng góp tiền và công lao động để kéo điện về sử dụng chung, đến năm 2010 có 2 hộ phía trong xin kéo ké điện để dùng, cả tổ điện đều đồng ý cho kéo và thu mỗi hộ 3 triệu đồng để gây quỹ cho tổ điện. Đến năm 2012, phía bên trong có đăng ký đường điện hạ thế gần nhà, nên 2 hộ này xin cắt điện không sử dụng chung nữa. Lúc này, cả tổ điện đồng ý trả lại cho mỗi hội 2 triệu đồng và đã thực hiện. Nay ông T cùng 2 hộ nữa yêu cầu tách riêng đường điện, đòi lại số tiền đã góp hoặc mỗi hộ được lấy lại 2 triệu đồng và còn đòi ký tên vào giấy được sử dụng chung đường dây, trụ điện là rất vô lý, nên ông không muốn dự họp, cũng như không ký tên vào giấy chấp thuận cho sử dụng chung đường điện.

Qua các ý kiến trình bày, tổ hòa giải nhận thấy, trước đây, khi kinh tế khó khăn, tình đoàn kết trong xóm thể hiện rất tốt nên mới thực hiện được việc kéo điện sử dụng chung từ năm 2006 đến hiện tại. Nay kinh tế phát triển, nhiều hộ gia đình có điều kiện kéo điện sử dụng riêng là điều đáng mừng, vấn đề là ở chỗ chưa tìm được sự đồng thuận trong việc tách riêng đồng hồ điện chính giữa các bên.

Sau khi hội ý, tổ hòa giải thấy rằng, nên thống nhất hòa giải vụ việc trên cơ sở đạo đức xã hội, tình làng, nghĩa xóm. Tổ trưởng tổ hòa giải gợi nhắc đến tình cảm láng giềng tốt đẹp trước đây giữa các bên khi cùng nhau đóng góp để kéo điện, giữa các hộ tin tưởng nhau nên không có văn bản thỏa thuận để ghi nhận việc khi có yêu cầu tách riêng điện ra thì phải giải quyết như thế nào. Nay 3 hộ xin tách riêng, yêu cầu phải hoàn trả tiền cho mình là việc gây khó khăn cho 4 hộ còn lại. Bởi các vật tư, dây, trụ phơi nắng, phơi mưa gần chục năm, giá trị sử dụng không còn như ban đầu, nên rất khó để khấu trừ, hơn nữa còn yêu cầu sử dụng chung đường trụ cũ. Năm 2012, có 2 hộ xin cắt điện không sử dụng điện nữa và được cả tổ nhất trí trả lại mỗi hộ 2 triệu đồng là do 2 hộ này rút hẳn đường dây, không sử dụng điện chung nữa. Việc 3 hộ xin tách điện riêng, yêu cầu hoàn lại tiền đã đóng góp trước đây là đúng, nhưng phải xem hoàn lại bao nhiêu là phù hợp với khả năng của những hộ còn lại, đồng thời cần phải khấu trừ hao mòn vật tư đã sử dụng. Vì tình làng nghĩa xóm từ trước đến nay, để hài hòa lợi ích, tổ hòa giải đề nghị bên tách đường điện nên nhận mỗi hộ 1 triệu đồng gọi là nhận lại khoản tiền đã đóng góp, cũng như tạo điều kiện cho các hộ còn lại có khả năng hoàn trả. Đối với các hộ còn lại, cũng nên chấp nhận điều kiện này, cùng nhau góp tiền trả lại cho 3 hộ tách điện riêng và ông K có trách nhiệm ký tên vào đơn đồng ý cho sử dụng chung đường trụ để điện lực tiến hành kéo điện cho 3 hộ tách điện riêng.

Sau khi nghe ý kiến hòa giải, các bên cùng bàn bạc, thảo luận, phân tích cái được, cái mất và cuối cùng nhất trí phương án tổ hòa giải đưa ra.

1.12. Khi hai đàn ngan gặp nhau…

a. Nội dung sự việc

Hai gia đình ở gần nhau. Mỗi nhà nuôi một đàn ngan. Hai đàn ngan cùng lứa, cùng loại nên rất giống nhau, được thả ở cùng một khu vực. Hàng ngày, chúng thường kiếm ăn cùng nhau và có lúc lẫn vào nhau như một đàn. Trưa đến, tối về, chúng lại trở về cùng chủ của chúng.

Không rõ nguyên nhân như thế nào mà buổi trưa ngày hôm đó, khi kiểm tra ngan, gia đình ông H thấy thiếu đúng 15 con ngan. Ông H sang nhà ông T và cho rằng 15 con ngan nhà mình đã bị lẫn sang đàn ngan nhà ông T. Song ai dồn sang, ai bắt sang? Ngan nhà ông H sang nhà ông T như thế nào thì không ai rõ và  cũng không có chứng cứ để nói rằng ông T đã bắt trộm ngan nhà ông H. Ông T lý luận rằng: "Ngan quen đàn" nên không chấp nhận trả lại 15 con ngan cho nhà ông H. Hàng ngày ông H cũng không để ý đàn ngan nhà ông T có bao nhiêu con. Ông H  đòi vì cho rằng ngan nhà ông đã bị lạc sang đàn ngan nhà ông T. Ông H cũng đã đi tìm khắp nơi và tin rằng không ai vào đây bắt trộm ngan và ngan cũng không bao giờ đi xa. Còn ông T cũng lý sự và cho rằng nếu ông H đòi thì căn cứ vào đâu, có đánh dấu riêng gì không? và giờ đây biết con ngan nào của nhà ông H mà đòi... Sự việc trở nên phức tạp và hai gia đình cứ cãi nhau để đòi lại 15 con ngan. Mâu thuẫn giữa hai gia đình đã rất căng thẳng và nếu không được giải quyết kịp thời thì có thể dẫn đến xô xát.

b. Quá trình hoà giải

Nghe tin vậy, tổ hoà giải của thôn đã vào cuộc. Song, cái khó là giải quyết 15 con ngan lạc đàn như thế nào cho hợp lý, hợp tình? (mọi người cũng không dám khẳng định chắc chắn là đàn ngan nhà ông T thừa 15 con). Thế là tập thể tổ hoà giải lại chụm đầu "bí mật" bàn bạc, tìm cách giải quyết. Một mặt tổ hoà giải cử người đến nhà ông T để tìm hiểu cụ thể vụ việc, giải thích cho ông T thấy là nếu thực sự ngan có lạc sang nhà ông thì khuyên ông nên trả lại cho ông H. Về tình cảm thì là chỗ láng giềng, hàng xóm, việc trả lại cho nhau những con gà, con ngan là chuyện bình thường trong cuộc sống. Giá trị của 15 con ngan đối với một gia đình nông dân cũng không phải là lớn, song đây là công lao chăm sóc, chăn dắt, nay đã đến kỳ thu hoạch, mà chịu mất một cách vô lý thì rất đáng tiếc. Điều 243 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định là nếu gia cầm của một người  bị thất lạc mà người khác bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau một tháng, kể từ ngày thông báo công khai, mà không có người đến nhận thì gia cầm đó mới thuộc sở hữu của người bắt được. Mặt khác, tổ cũng thông báo với ông T là nếu không tự nguyện trả hoặc khó xác định để trả lại những con ngan nào là con ngan nhà ông H thì tổ sẽ áp dụng biện pháp hoà giải theo "cách riêng" của tổ.

Cách hoà giải của tổ được mọi người thống nhất ý kiến. Đó là bằng kinh nghiệm thực tế, mọi người đều cho rằng ngan nhất định "quen đàn". Cách để tách 15 con ngan nhà ông H ra khỏi đàn ngan nhà ông T là phải thực hiện theo phương châm: bí mật, khẩn trương, nhanh chóng, kịp thời để ngan không kịp quen nhau. Đúng là trong cái khó ló cái khôn. Tổ hoà giải quyết định cho hai đàn ngan "gặp nhau". Kết quả đúng như dự đoán và nhiều người cũng không ngờ rằng  khi "gặp nhau" ngan lại về đàn cũ.

Cuộc hoà giải 15 con ngan đạt kết quả tốt đẹp. Tối hôm đó cả hai gia đình tự nguyện góp mỗi nhà một chú ngan để giải hoà và mời tổ hoà giải cùng dự vui vẻ.

1.13. Con trâu của ai?

a. Nội dung vụ việc

Vào ngày 12/11/2014 tại địa bàn 2 thôn NL và PL đã xảy ra việc tranh chấp một con trâu giữa ông Nguyễn Ngọc P ở thôn PL và bà Trương Thị T ở thôn NL. Cụ thể: Hộ ông Nguyễn Ngọc P có một con trâu đực hơn hai năm tuổi, màu đen, thường ngày gia đình cho trâu ăn trên đồng và chiều tối trâu tự về chuồng. Sau đó 2 ngày, không thấy trâu về, gia đình ông P đã cho người đi tìm mà không thấy, đến ngày thứ ba thì phát hiện con trâu nhà mình bị bà T giữ trong chuồng, gia đình ông P đề nghị bà T thả trâu, nhưng bà T khẳng định đó là trâu nhà mình và không chịu thả. Từ đây, mâu thuẫn, tranh chấp đã xảy ra.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi có đơn trình bày của gia đình ông P, UBND xã thấy rằng, việc tranh chấp con trâu liên quan đến người 2 thôn, nên phân công đại diện tổ hòa giải của 2 thôn NL và PL phối hợp với công chức tư pháp xã, đại diện Hội Nông dân xã giải quyết.

Đại diện tổ hòa giải tiến hành kiểm tra, xác minh và lấy lời khai của hai hộ gia đình. Thấy tình hình hai gia đình đang tranh chấp một con trâu và bên nào cũng khai báo đặc điểm con trâu hoàn toàn giống nhau, nên tổ hòa giải phải gặp trực tiếp bà con xung quanh hai gia đình để tìm hiểu sự việc. Qua những thông tin bà con hàng xóm cung cấp, thì vẫn chưa phân định được rõ con trâu là của bên nào, vì cả hai nhà có hai con trâu giống nhau, nên tình hình giải quyết càng phức tạp hơn. Sau đó, tổ hòa giải thống nhất phương án giải quyết là buộc gia đình bà T thả con trâu đang giữ trong chuồng ra và tổ hòa giải cử người dắt con trâu đó ra đồng, yêu cầu nếu gia đình nào tự ý dắt trâu về chuồng, thì con trâu thuộc nhà bên kia và hai gia đình đã ký vào biên bản cam kết. Ngày 16/11/2014, con trâu được tổ hòa giải thả ra đồng từ sáng sớm và chiều tối nó tự về nhà ông P có sự chứng kiến của hai gia đình và bà con trong xóm, nhưng bà T không công nhận con trâu tự về chuồng, mà nói rằng, gia đình ông P ra dắt trâu về.

Để giải quyết sự việc một cách công bằng và khách quan, tổ hòa giải đề nghị gia đình ông P tiếp tục thả trâu ra đồng vào sáng ngày 17/11/2014 và yêu cầu không gia đình nào được tự ý dắt trâu về chuồng của mình. Chiều tối ngày hôm đó, trâu đã tự về chuồng nhà ông P, thì gia đình bà T cho người chặn đường, không cho trâu vào chuồng nhà ông P, buộc con trâu phải vào chuồng nhà người khác ở thôn PL, tổ hòa giải phải đến đặt vấn đề với gia đình đó để sáng ngày 18/11/2014 tổ hòa giải tiếp tục thả trâu ra đồng và chiều tối trâu lại tự vào chuồng nhà ông P.

Sau 3 ngày thả trâu ra đồng, tổ hòa giải đã có cơ sở để giải quyết vụ việc. Ngày 20/11/2014, tổ hòa giải đã mời hai gia đình, Trưởng thôn NL, thôn PL đến UBND xã để làm việc: Tổ hòa giải đã phân tích cho gia đình bà T biết việc tranh chấp trâu với gia đình ông P là không đúng, bởi vì dân gian có câu “lạc đường nắm đuôi chó, lạc cửa ngõ nắm đuôi trâu”, trong 3 ngày con trâu thả ra đồng đến chiều tối nó tự về chuồng nhà ông P, thì không có cơ sở nào bà T lại nhận trâu nhà mình, mặc dù biết rằng nhà bà T cũng có một con trâu bị thất lạc, gia đình phải đi tìm.

Sau khi nghe tổ hòa giải và các thành phần tham gia hòa giải phân tích, góp ý có tình, có lý, bà T hiểu ra và công nhận đó không phải là trâu nhà mình, mà là trâu nhà ông P.

Sau khi giải quyết xong, tổ hòa giải hướng dẫn gia đình bà T thông báo tìm con trâu bị thất lạc trên loa truyền thanh của xã. Năm ngày sau, gia đình bà T đã tìm thấy con trâu bị thất lạc.

1.14. Không ai lấy cái sai để chống lại cái sai

a. Nội dung sự việc

Gia đình chị T và gia đình bà B có mâu thuẫn do chị T xây nhà đã làm mái nhà lấn sang phần đất của bà B (nước chảy sang nhà bà B). Nhiều lần bà B yêu cầu chị T phải rút bớt mái nhà lại thì chị T hứa là khi nào đảo ngói sẽ sửa, nhưng khi đảo ngói, chị T vẫn không sửa, bà B bức xúc, cho con đào một cái hào trên phần đất nhà bà, sát với móng nhà chị T, làm nứt tường nhà chị T.

Tổ hoà giải đã tiến hành gặp gỡ hai gia đình, khuyên họ nên bình tĩnh, giữ tình làng nghĩa xóm, hơn nữa bà B đáng tuổi cha mẹ chị T, đừng để xảy ra điều gì đáng tiếc. Sau đó các thành viên trong tổ hoà giải cùng nhau bàn bạc phương án giải quyết.

  1. b.     Quá trình hoà giải

Tổ hòa giải nhận định:

1. Việc chị T để nước từ trên mái nhà chảy sang phần đất nhà bà B là không thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Khi bà B nhắc nhở, chị T đã hứa là sẽ sửa, nhưng lại cố tình không sửa, nên đã gây bức xúc cho bà B.

2. Bà B do quá bức xúc nên đã cho con đào hào sát móng nhà chị T gây rạn nứt tường nhà chị T cũng là việc làm sai pháp luật.

Căn cứ vào những chứng cứ cụ thể và các quy định của pháp luật, tổ hoà giải đã mời chị T và bà B ra họp tại nhà văn hoá khu để giải quyết. Qua phân tích của các tổ viên, bằng  lời lẽ chân tình, thấu đáo kết hợp với việc tuyên truyền các quy định của pháp luật, chị T và bà B đã nhận ra những việc làm không đúng của mình đã làm sứt mẻ tình cảm lối xóm và gây mất an ninh trật tự. Cả hai cùng hứa sẽ sửa chữa ngay. Chị T hứa sẽ ngay lập tức thu bớt lại mái ngõ về phần đất nhà mình. Bà B cũng hứa sẽ bảo con lấp những chỗ đã đào, cho đầm nện cẩn thận, hai người đã bắt tay vui vẻ với nhau trước sự chứng kiến của  mọi người trong tổ hoà giải.

Qua vụ việc trên, có thể rút ra bài học trong công tác hoà giải, mâu thuẫn giữa bà con lối xóm rất dễ phát sinh từ những nguyên nhân nhỏ, do không hiểu biết hoặc quá chú trọng đến lợi ích của mình. Ai cũng cho rằng mình không sai, nên thường gây nên bức xúc không đáng có. Vì vậy, hoà giải viên trước tiên cần biết cách khéo léo giúp họ qua cơn bức xúc, bằng cách yêu cầu họ kể lại sự tình theo quan điểm của họ. Người đang có mâu thuẫn mà nói ra cho người khác nghe sẽ giải toả được nỗi bức xúc trong lòng, như có người khác chia sẻ. Sau đó bằng lời lẽ ân cần, mà giúp họ có được suy nghĩ về việc làm của mình, giữ được bình tĩnh trong các mối xung đột thì coi như việc hoà giải đã thành công được một nửa. Thiết nghĩ, công tác hoà giải cũng như một cái túi buộc vào đó tất cả những bực dọc của xóm làng, người làm công tác hoà giải cần biết chia sẻ, tâm sự với đương sự, làm sao cho họ thấy tin tưởng ở sự công tâm và hiểu biết của mình, thì nửa công việc còn lại chắc chắn sẽ thành công.

1.15. Mình vì mọi người, mọi người vì mình

a. Nội dung vụ việc

Người dân hai xóm T, xóm N (xã X, huyện Y) cùng sử dụng chung nguồn nước tự chảy để dùng vào sinh hoạt và sản xuất. Năm vừa qua, ông P (xóm T) vừa cải tạo được một đám ruộng cạnh nhà để trồng lúa nước. Để thuận tiện cho việc canh tác, ông P mua cây, vòi nước về lắp đường nước dẫn về ruộng của mình. Tuy nhiên, khi vào vụ canh tác, những hộ dân ở xóm N nhận thấy việc ông P dẫn nước về canh tác làm ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt cũng như nước sản xuất của mình. Các hộ có ý kiến với gia đình ông P, nhưng ông P không nhất trí. Lời qua tiếng lại, một số hộ dân xóm N đã cùng nhau chặt bỏ ống dẫn nước của gia đình ông P. Bức xúc vì đường nước bị phá, ông P làm đơn đến tổ hòa giải xóm yêu cầu tổ giải quyết. Do ông P cùng các hộ dân ở hai xóm khác nhau, nên việc hòa giải gặp nhiều khó khăn.

b. Quá trình hòa giải

Nhận thấy mâu thuẫn giữa ông P và các hộ dân xóm N là mâu thuẫn giữa các thành viên ở hai xóm khác nhau. Hai tổ hòa giải của hai xóm thống nhất mỗi tổ hòa giải cử một hòa giải viên.

Sau khi được phân công, hòa giải viên đã tiến hành xác minh mâu thuẫn. Kết quả như sau:

+ Gia đình ông P đã mắc hai vòi nước để dẫn nước về sinh hoạt và sản xuất. Ông P cho rằng: Nước tự nhiên, nhà ông có điều kiện thì mắc hai vòi.

+ Theo quy chế xóm N mỗi hộ chỉ lắp một đường dẫn nước để sinh hoạt.

+ Các hộ dân ở xóm N đã góp ý ông P nhiều lần, nhưng ông P không nhất trí mắc 01 vòi nước, nên đã phá dỡ, chặt vòi nước của ông P.

+ Thiệt hại của gia đình ông P là: Một đoạn ống nước bị đứt, cây làm ống dẫn nước bị hỏng.

Sau khi xác minh mâu thuẫn giữa hai bên, hòa giải viên đã mời ông P và các hộ dân xóm N tới nhà văn hóa xóm T để hòa giải.

Tại buổi hòa giải, các bên đã trình bày ý kiến của mình. Ông P vẫn muốn lắp lại đường ống dẫn nước và yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi thường cho ông tiền ống dẫn nước đã bị tháo dỡ. Các hộ dân ở xóm N không chấp nhận bồi thường và cũng không đồng ý để ông P lắp lại đường ống nước.

Hòa giải viên đã phân tích cho hai bên hiểu: Người dân xóm N không cho ông P lấy nước vào ruộng là sai. Việc tự ý chặt bỏ đường ống dẫn nước vào ruộng, gây thiệt hại về tài sản cho ông P là trái với các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc ông P đặt ống nước làm ảnh hưởng tới nguồn nước sinh hoạt cho bà con là ảnh hưởng tới các hộ dân khác của hai xóm N và T, như thế là không đúng. Xóm N và xóm T xưa nay rất đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng vì mâu thuẫn của hai bên mà làm mất đi tình đoàn kết bấy lâu giữa hai xóm.

Hòa giải viên nêu các quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến vụ việc để hai bên hiểu rõ về hành vi của mình là đúng hay sai.

Qua quá trình vận động, thuyết phục, hai bên đã nhất trí: Ông P không được đặt ống nước riêng vào ruộng của mình, mà tất cả sẽ cùng sử dụng nguồn nước tưới chung để đảm bảo sản xuất, sinh hoạt cho tất cả các hộ. Các hộ dân xóm N đã phá hỏng đường ống nước của ông P, nên sẽ bồi thường thiệt hại với mức là 300.000 đồng. Bên gây thiệt hại đã nhận trách nhiệm, bồi thường cho ông P tiền ống nước và trao cho ông ngay tại nơi hoà giải.

Vụ việc hòa giải thành đã nối lại tình cảm giữa các hộ dân ở hai xóm T và N, tăng thêm tình đoàn kết giữa hai xóm. Vụ việc cũng là bài học để các hộ dân cùng chia sẻ với nhau những khó khăn trong sản xuất, sinh hoạt, nhất là về việc sử dụng nguồn nước chung.

Mâu thuẫn giữa người dân là mâu thuẫn nhỏ, nhưng cũng có thể trở nên căng thẳng, gay gắt nếu không kịp thời được giải quyết. Giải quyết mâu thuẫn giữa những người dân ở các xóm khác nhau thì cần có sự phối hợp giữa hòa giải viên ở tổ hòa giải các xóm đó. Đồng thời, hòa giải phải dựa trên cả tình cả lý, phân tích, thuyết phục để các bên thấy được cái sai, cái đúng của mình. Hòa giải viên có thể đưa ra hướng giải quyết vụ việc để định hướng hai bên mâu thuẫn tìm được cách giải quyết thấu tình đạt lý nhất.

1.16. Chỉ tại cái bể phốt và máng nước    

a. Nội dung vụ việc

Gia đình ông D và gia đình ông bà N là hai gia đình liền kề. Trong nhiều năm, hai gia đình có quan hệ làng xóm “tối lửa tắt đèn” có nhau. Năm 2005, nhà ông D xây nhà kiên cố, do điều kiện kinh tế còn khó khăn, việc xây công trình vệ sinh (bể phốt) làm chưa được đạt tiêu chuẩn. Qua một thời gian sử dụng, năm 2013 công trình vệ sinh nhà ông D có sự rò rỉ nước thải từ bể phốt, làm ô nhiễm môi trường xung quanh. Do ở tiếp giáp gần công trình vệ sinh, gia đình nhà ông N chịu ảnh hưởng nhiều nhất và đã có ý kiến với nhà ông D, tuy nhiên, ông D cho rằng, sự việc đó không nghiêm trọng, không ảnh hưởng lớn và không xử lý. Về phía gia đình ông D cũng có ý kiến về việc mái tôn nhà ông N khi mưa, nước mưa dội vào tường nhà mình và yêu cầu gia đình nhà ông N cũng phải xử lý nước mưa chảy từ mái tôn sang tường nhà và đất nhà mình.

 Sự việc âm ỉ và ngày càng nóng lên, hai gia đình đã có mâu thuẫn gay gắt, căng thẳng gia tăng, lớn tiếng cãi nhau và có xô sát. Bức xúc trước vụ việc, ông N đã báo cáo khu dân cư và đề nghị được giải quyết.

b. Quá trình hòa giải

Khi nhận được tin báo vụ việc, ông V với cương vị tổ trưởng tổ hòa giải đã kịp thời báo cáo Bí thư Chi bộ khu phố về tình hình sự việc giữa hai gia đình đang diễn ra căng thẳng, đồng thời, thông tin cho các tổ viên tổ hòa giải tổ chức họp hội ý nhanh về tình hình vụ việc. Xác định tình hình mâu thuẫn hai gia đình đang căng thẳng. Để làm dịu tình hình, ông V đã quyết định:

- Phân công tổ viên tổ hòa giải gặp mặt hai gia đình để thuyết phục các bên giữ bình tĩnh không để xảy ra cãi cọ, xô sát giữa đôi bên. Khi tình hình đã lắng diụ, các bên bình tĩnh trở lại, các tổ viên tổ hòa giải tranh thủ hỏi thăm các bên tranh chấp về tình hình dẫn đến vụ việc để thu thập thông tin.

+ Về phía nhà ông N trình bày sự rò rỉ nước thải từ bể phốt nhà ông D bốc mùi. Đặc biệt, khi trời nóng oi, im gió, khu vực phía sau nhà rất khó chịu, gia đình ông nhiều lần có ý kiến, nhưng nhà ông D không xử lý, gia đình ông mong muốn đề nghị khu dân cư giải quyết.

+ Về phía nhà ông D cũng trình bày việc nhà ông N khi xây dựng đã không lắp đặt máng đỡ thoát nước mưa phía mái tôn giáp nhà mình, mỗi khi mưa to nước mưa xối vào tường nhà và phần đất của nhà mình và đã có ý kiến, nhưng nhà ông N vẫn không khắc phục.

- Như hai bên đã trình bày, các thành viên tổ hòa giải đã tiến hành xác minh nhanh sự việc. Khu vực sau nhà ông bà N để ô nhiễm chất thải như gia đình đã báo cáo; đồng thời kiểm tra mái tôn nhà ông N xây dựng là không lắp máng thoát nước như ông D đã trình bày là có thật.

- Tranh thủ hỏi thăm ý kiến của một số hộ có liên quan đến phần đất liền kề với khu vực xây dựng công trình tự hoại của gia đình ông D để nắm bắt thêm thông tin.

- Tổ hòa giải tổ chức họp nhanh để bàn phương án giải quyết. Dưới sự chủ trì của ông V, các tổ viên đã đưa ra các quan điểm hòa giải:

+ Phải bảo đảm khách quan, có sức thuyết phục, có lý, có tình để các bên thấy được cái đúng cái sai dựa trên các quyền và nghĩa vụ công dân, trách nhiệm cá nhân, gia đình trong việc bảo vệ, giữ gìn môi trường chung cho cộng đồng.

+ Tôn trọng các bên và trách nhiệm giữ gìn an ninh trật tự của khu xóm.

Xác định việc rò rỉ nước thải sinh hoạt nhà ông D ô nhiễm có mùi và việc mái tôn nhà ông N không lắp máng thoát nước là có thật và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chính của hai gia đình trong thời gian qua.

- Để xác định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tranh chấp, tổ hòa giải đã nghiên cứu 03 văn bản có liên quan làm căn cứ để giải quyết:

+ Việc xử lý nước thải sinh hoạt rò gỉ của gia đình ông D theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (được quy định từ Điều 80 đến Điều 84 của Luật).

+ Việc xử lý việc thoát nước mưa của gia đình ông N theo Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 250 quy định nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa).

+ Quy ước của khu dân cư (được UBND huyện phê duyệt năm 2006).

- Lựa chọn thời gian, địa điểm:

+ Do tính chất của vụ việc cần phải giải quyết sớm, thực tế điều kiện thời gian của hai gia đình, tổ hòa giải quyết định tiến hành hòa giải ngay sau khi nhận được yêu cầu giải quyết vụ việc.

+ Địa điểm được lựa chọn thực hiện tại nhà ông N, thời gian và địa điểm được thông báo cho cả hai gia đình có tranh chấp.

Biểu quyết trong tổ hòa giải, 100% các tổ viên nhất trí phương án đã dự kiến để hòa giải vụ việc.

- Tranh thủ thời gian trước khi cho đại diện hai gia đình hòa giải, ông V phân công tổ viên tổ hòa giải tranh thủ  tiếp xúc, trao đổi với ông N và ông D.

+ Khi gặp gỡ với đại diện hai gia đình, tổ viên tổ hòa giải lựa lời phân tích sự việc đối chiếu các tình tiết của vụ việc với các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, về trách nhiệm bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, trách nhiệm việc thoát nước mưa đối với gia đình nhà ông N theo quy định của Bộ luật Dân sự, kết hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, tình đoàn kết của nhân dân trong khu xóm với tinh thần “Lá lành đùm lá rách”, trách nhiệm của các gia đình trong khu xóm trong việc cùng nhau xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” để phân tích cho các bên thấy rõ cái đúng, cái  sai, có trách nhiệm giữ gìn sự đoàn kết tương thân, tương ái, “tối lửa tắt đèn” có nhau. Vừa trao đổi vụ việc, vừa tranh thủ tìm hiểu thêm về hoàn cảnh gia đình, tâm lý, tính cách của hai chủ hộ và các nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn nhằm phục vụ cho buổi hòa giải đạt được kết quả tốt nhất. 

Cuộc trò chuyện, trao đổi giữa tổ viên tổ hòa giải và đại diện hai gia đình diễn ra thân mật, trong sự thông cảm tin cậy lẫn nhau. Đại diện hai bên gia đình đã sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ để giải quyết mâu thuẫn.

Đúng như dự kiến, tại buổi hẹn hòa giải, đại diện tổ hòa giải và gia đình ông D đã có mặt tại nhà ông N. Sau khi bố trí chỗ ngồi, chủ động pha trà, rót nước mời mọi người cùng uống. Cùng ấm trà xanh, câu chuyện làm ăn của khu xóm, cùng các mẩu tin thời sự nóng được tổ viên tổ hòa giải thông tin diễn ra rôm rả, xua tan không khí căng thẳng, ngột ngạt lúc ban đầu. Với chiếc điếu cày trên tay, ông V chậm rãi nhả khói, bắt đầu vào câu chuyện, ông nêu lý do sự có mặt của mọi người trong buổi gặp mặt hôm nay và đề nghị ông N có ý kiến về sự việc.

Do đã được làm tốt công tác tư tưởng, ông N bình tĩnh trình bày vụ việc và nguyện vọng mong muốn gia đình ông D xử lý sự rò rỉ nước thải sinh hoạt, hạn chế sự ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, với quan điểm của ông D, sự ô nhiễm như ông N phản ánh chưa đến mức nghiêm trọng, vì vậy, không phải xử lý và yêu cầu ông N phải xử lý ngay việc mái che nhà ông N. Trước phản ứng của ông D, ông N đã nổi nóng, tình hình lại nóng lên, không khí có phần ngột ngạt. Để làm dịu tình hình, ông V cùng các tổ viên tổ hòa giải đã kịp thời can ngăn đề nghị các bên giữ bình tĩnh, từng tổ viên góp ý kiến, phân giải thiệt hơn với hai gia đình. Để làm rõ việc rò rỉ nước thải sinh hoạt nhà ông D, ông V đề nghị được khảo sát thực tế và được ông D đồng ý. Trước sự chứng kiến của mọi người, tổ hòa giải đã đào khu vực có dấu hiệu rò rỉ nước thải bên công trình tự hoại nhà ông D, kết quả xác thực là bể phốt có sự nứt vỡ, nước thải tràn ra ngoài trực tiếp và độ ô nhiễm mùi vào không khí rất cao. 

Tiếp tục trở lại cuộc hòa giải, ông V nêu rõ kết quả khảo sát thực tế và phân tích việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của mỗi công dân nói chung và của gia đình ông D nói riêng trong việc bảo đảm vệ sinh chung, giữ gìn môi trường xanh, sạch đẹp và đề nghị ông D nên chấp hành.

Trước sự phân tích có lý, có tình của tổ hòa giải, ông D nhận ra trách nhiệm của gia đình trong sự việc và chủ động hòa giải với ông N về phương án giải quyết là xây lại. Tuy nhiên, ông cũng băn khoăn một điều, việc sửa chữa công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn sẽ tốn kém (khoảng 30.000.000 đồng), vì vậy, việc giải quyết không phải một sớm, một chiều. Hiện tại, kinh tế gia đình chưa cho phép, phải có thời gian chuẩn bị. Ông D chủ động đề xuất với tổ hòa giải là lui lại việc xử lý một thời gian để gia đình có thời gian thu xếp, đồng thời, đề nghị ông N khắc phục lắp máng tôn dẫn nước mưa không để nước chảy trực tiếp vào tường nhà mình.

Trước tinh thần hợp tác của ông D, ông N đồng ý với ý kiến của ông D, đồng thời, gia đình ông sẽ thực hiện lắp máng thoát nước không để nước mưa dội vào tường nhà ông D. Hai bên tự nguyện cam kết thực hiện. Thay mặt tổ hòa giải khu, ông V động viên hai gia đình thực hiện cam kết. Vụ việc được ghi lại biên bản hòa giải để tổ hòa giải theo dõi các bên thực hiện.

Kết quả hòa giải thành, các bên tranh chấp đều đạt được lợi ích của mình. Trong thời gian đó, ông V với trách nhiệm của người tổ trưởng, thường xuyên theo dõi, động viên hai gia đình thực hiện cam kết, các bên đã tự nguyện khắc phục các nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn đúng thời gian như đã cam kết. Khu xóm trở lại sự thanh bình, trong tâm trí ông V chỉ còn là những kỷ niệm, mỗi ngày mới đến, ông lại bận rộn với công việc gia đình, khu xóm, trăn trở, trách nhiệm với bà con, nên bà con đã bầu là “Bác trưởng thôn” và gọi với cái tên thân mật “Người vác tù và hàng tổng”

Qua vụ việc đã hòa giải trên đã có những tác động trên thực tế, nhân dân trong khu, xóm giềng nơi giải quyết vụ việc rất hoan nghênh và ủng hộ tinh thần những người làm công tác hòa giải. Vụ việc được giải quyết có tình, có lý đã có sức thuyết phục cao, tính tuyên truyền sâu sắc, cụ thể, thiết thực liên quan đến các vấn đề nóng về bảo vệ môi trường, sử dụng bất động sản liền kề mà thực tế hiện nay thường xảy ra tại các khu dân cư.

1.17. Nguồn nước tưới không của riêng ai

a. Nội dung vụ việc

Ruộng nhà anh Nông Quốc N ở đầu nguồn nước, khi nước ít thì anh N khơi nguồn nước và cho chảy hết vào ruộng nhà mình. Anh K có khu ruộng phía dưới nên mỗi lần anh N ngăn nước lại, thì ruộng anh K bị thiếu nước (thậm chí bị khô hạn). Anh K đề nghị anh N mở nguồn nước, thì anh N không đồng ý với lý do nước chảy từ nơi cao xuống thấp, nhà ai ở gần nguồn nước thì được quyền dùng nước ấy. Sau khi đề nghị không được, hai bên thường xảy ra to tiếng.

b. Quá trình hoà giải

Trong sự việc trên, Tổ hoà giải của thôn đã đề cử bác M - cán bộ hoà giải tới hoà giải sự việc. Bác M xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh N ngăn nguồn nước, làm ruộng nhà anh K bị thiếu nước. Bác đã mời trưởng thôn và cán bộ địa chính xã cùng tham gia hoà giải.

Bác M và trưởng thôn đã giải thích và giải toả mâu thuẫn căng thẳng giữa hai bên.

Bác M đã vận dụng Điều 253 Bộ luật Dân sự năm 2015 để phân tích thêm cho hai bên hiểu quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác, đó là: "người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho người sử dụng bất động sản liền kề, nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường".

Ngoài ra, nguồn nước là nguồn nước chung, tất cả các gia đình cùng sử dụng chứ không phải là của riêng gia đình nào cả. Do vậy, giải pháp tốt nhất là hai bên bàn bạc, thoả thuận.

Anh N đã nhận ra lỗi của mình trong việc tự ngăn nguồn nước vào ruộng nhà anh K và đã chủ động khai thông nguồn nước.

Anh K cũng nhận lỗi do nóng nảy và hứa rút kinh nghiệm.

1.18. Do sàm sỡ vợ người khác dẫn tới vụ ẩu đả

a. Nội dung vụ việc

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/9/2014, khi đang bán hàng tại quán nhà mình trong khu chợ trung tâm thị trấn X, ông Q tổ trưởng tổ hòa giải khu 6 nghe tiếng cãi vã, ông Q chạy ra xem thì thấy một người mồm bị sưng to, tím bầm, máu rớm chảy, tay cầm lưỡi quốc đang chửi bới, thách thức và sấn vào đòi đánh anh T (người bán hàng trong chợ). Ông Q cùng mọi người dân có mặt trong khu chợ kịp thời can ngăn, đồng thời, đưa mỗi người ra một địa điểm khác nhau. Ông Q đưa người cầm quốc về quán nhà mình, đồng thời, gọi các thành viên tổ hòa giải khu 6 đến để phối hợp tổ chức hòa giải vụ việc xích mích.

b. Quá trình hòa giải

Tìm hiểu nguyên nhân sự việc từ anh cầm quốc (anh P người xã Y), anh T và những người có chứng kiến sự việc, tổ hòa giải được biết: Anh P đi chợ huyện từ sáng cùng 4 người nữa, đều là những người cùng bản. Đến trưa, mấy anh em cùng đi ăn cơm, trong bữa cơm mấy anh em gọi rượu ra uống. Trong người đã ngà ngà men rượu, mấy anh em vào chợ. Khi đến quán nhà anh T, thấy vợ anh T đang bán hàng, P hỏi đùa mua hàng rồi trêu ghẹo vợ anh T, sự việc dừng lại ở việc trêu ghẹo thì có lẽ không có vấn đề gì; nhưng tiếp sau những lời trêu ghẹo, anh P dùng tay sờ soạng lên người vợ anh T. Đứng chơi bên quán đối diện, để ý từ đầu, anh T thấy vậy chạy về và nhảy vào đấm đá tới tấp anh P, anh P không kịp phản xạ ngã lăn ra đập mồm xuống đất, làm mồm anh P xưng to. Sau khi bị đánh, anh P gọi điện cho anh em người cùng bản đến để trả thù anh T và cầm cuốc của quán gần đó lao vào đòi đánh anh T.

Lúc đầu, khi được đưa về nhà ông Q (tổ trưởng tổ hòa giải) anh P khăng khăng gọi người nhà đến “quyết sinh tử với thằng này (với anh T)”.

Nhận định sự việc rất căng thẳng, cần giải quyết ngay, để kịp thời phòng ngừa việc tổ chức đánh người, dẫn đến tình trạng nhiều người vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an ninh xã hội. Tổ hòa giải tập trung tìm hiểu nguyên nhân, phân tích, làm rõ sự việc, để có định hướng khuyên nhủ, thuyết phục có lý, có tình giúp hai bên hiểu rõ vấn đề và tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, xích mích.

Để giải quyết được vụ việc, sau khi tìm hiểu nguyên nhân, tổ hòa giải tiến hành gặp gỡ, lắng nghe ý kiến, tâm lý của từng bên; phân tích nội dung, từng việc làm để các bên nhận ra vấn đề, thông cảm bỏ qua cho nhau, để gắn kết tình cảm.

Đối với anh T, tổ hòa giải phân tích việc làm của anh là sai quy định của pháp luật. Mặc dù, anh P có hành vi sàm sỡ vợ anh, nếu bình tĩnh hơn, anh nhắc nhở, cảnh cáo và yêu cầu anh P xin lỗi, thì đó là việc làm đúng. Ngược lại, vì nóng giận, anh nhảy vào đánh người , nếu gây thương tích anh có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (về tội cố ý gây thương tích theo quy định của Bộ luật hình sự). Nếu để cơ quan công an mời lên làm việc, sẽ ảnh hưởng đến việc kinh doanh, buôn bán của mình, gây thiệt hại về kinh tế gia đình. Sự việc này không được giải quyết, thì hai bên dẫn đến mâu thuẫn, rồi có thể thù hằn, đánh nhau tiếp tục xảy ra, đơn giản thì cũng gây xáo trộn trong công việc làm ăn của anh và gia đình, phức tạp hơn thì có thể tổn hại đến tính mạng con người, hai bên đưa nhau đến việc vi phạm pháp luật, nhẹ thì bị xử lý vi phạm hành chính, nặng truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, tổ hòa giải tiến hành phân tích sâu sắc đến hệ lụy khi mâu thuẫn giữa hai bên còn tồn tại và lợi ích khi hòa giải được mâu thuẫn.

Đối với anh P, tổ hòa giải phân tích sự việc anh T nóng nảy đánh anh P là sai. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến việc làm của anh T là do anh P sàm sỡ vợ anh T là trái đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Đồng thời, anh P gọi anh em, người nhà đến tổ chức đánh anh T là hành vi đánh người có tổ chức, sẽ bị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tổ hòa giải phân tích những hệ quả nếu không giải quyết dứt điểm sự việc để còn mâu thuẫn giữa hai bên cho anh P nghe.

Qua phân tích sự việc của hai bên, chỉ ra những việc làm sai trái của từng người, hai bên đã hiểu rõ vấn đề, đều có nguyện vọng muốn xin lỗi và thông cảm, bỏ qua việc làm sai trái của nhau.

Tổ hòa giải tiến hành tổ chức buổi hòa giải cho hai bên gặp gỡ nhau tại nhà tổ trưởng tổ hòa giải. Sau khi được nghe tổ trưởng tổ hòa giải phân tích, giải thích chỉ ra hành vi sai trái của mỗi bên và những hậu quả pháp lý mà các bên có thể phải chịu nếu tiếp tục mâu thuẫn, xích mích và có những hành vi sai trái, thuyết phục các bên tự nhận ra sai lầm, khuyết điểm, tự thoả thuận giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn, trở lại quan hệ bình thường. Hai bên đã bày tỏ quan điểm với nhau, tự nguyện xin lỗi và bỏ qua cho nhau, không bên nào đòi hỏi bên kia bồi thường, đồng thời tự nguyện ký vào biên bản hòa giải.

Kết quả vụ việc hòa giải thành. Tình cảm hai bên được gắn kết trở lại. Qua vụ việc hòa giải đã có tác động tích cự trong thực tế đó là: Hướng dẫn, giúp đỡ các bên tự nguyên giải quyết với nhau mâu thuẫn, xích mích xảy ra; kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm an toàn trật tự xã hội ở khu phố. Góp phần giữ gìn đoàn kết nội bộ nhân dân, củng cố và phát huy những tình cảm, đạo lý truyền thống tốt đẹp trong cộng đồng dân cư.

1.19. Hòa giải không chỉ ngăn chặn xung đột bên ngoài

a. Nội dung sự việc

Xế trưa, bỗng có một cô bé quần áo xộc xệch, hớt hải chạy vào sân nhà ông trưởng thôn "Bác trưởng thôn ơi, cứu cháu với".

Đúng là một cuộc chiến! Hàng chục người lộn xộn cuốc, xẻng, dao, gậy gộc dồn đuổi nhau. Cách cái ao, một ông lão, một bà lão rướn mình xỉa xói. Dân quân nhanh chóng dẹp yên, nên không có ai bị thương tích. Sơ bộ nắm bắt tình hình, được biết cuộc đụng độ giữa những người trong dòng họ khởi đầu từ cây cà giống…

Tổ hoà giải của đội sản xuất phối hợp với chi hội phụ nữ, đoàn thanh niên thâm nhập tìm hiểu sự việc. Buổi hoà giải được tổ chức ngay 3 giờ chiều hôm đó tại nhà đội trưởng, kiêm tổ trưởng tổ hoà giải.

Ông O 76 tuổi với bà T 75 tuổi là chị em con bá con dì lên Điện Biên xây dựng vùng kinh tế mới, hai nhà liền nhau. Con cháu dâu rể đầy đàn. Chiều hôm đó, cô E là dâu út của bà T trồng mấy chục cây cà giống, đến sớm hôm sau đột nhiên mất hết không còn lấy một mầm.Vốn không ưa nhau từ trước, cô E ngờ cô B - dâu trưởng của ông O nhổ trộm. Lúc đầu họ chỉ chửi bóng gió, sau rồi người nhà bà T đắp luôn cái rãnh thoát nước ao nhà ông O chảy qua đất bà T. Rãnh đắp vào, khơi ra mấy bận rồi bịt hẳn.  Mâu thuẫn âm ỉ. Hôm đó đi dự đám cưới về, cô B rảo chân vượt qua bà T, nhổ nước miếng xuống đường. "A, con này láo, mày nhổ vào mặt tao hử!?" - Bà T gào lên. "Mặt bà là cái nõ gì mà tôi nhổ!" - Cô B lầm bầm bỏ đi. Tin trên nhanh chóng lan truyền, khắp họ kéo đến hình thành hai phe xông vào nhau.

b. Quá trình hoà giải

Tại cuộc hoà giải, vấn đề đưa ra phân tích tập trung vào 3 sự kiện: trước hết là "cây cà giống". Bên bà T chất vấn "không trộm thì nó đâu? Còn ai vào đây?". Anh cán bộ bảo vệ thực vật huyện được đón đến, giờ mới lên tiếng. Theo anh, cây cà giống thường bị con dế cắn ngang thân lôi về hang, nhưng vẫn trơ đoạn gốc còn lại rất ngắn nằm dưới đất, bới ra mới thấy. Do đất đã cuốc xới lại nên mọi người thống nhất không đến hiện trường bới tìm xác minh, nhưng không có cơ sở nào chứng minh người bên ông O trộm cà giống và bên đó cũng không trồng cà. Về việc chị B nhổ nước miếng, khi bà T mắng, chị B lại có câu nói xấc xược, không phải đạo con cháu. Về rãnh nước, mọi người chỉ ra: theo tự nhiên, nước chảy từ  cao xuống thấp, xưa nay ai cấm được bao giờ. Luật pháp lại quy định quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất phải đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất liền kề…

Cuộc hoà giải diễn ra trong mù mịt khói thuốc lào. Xẩm tối, chị B xin lỗi bà T. Bà T đồng ý cho khơi thông rãnh nước. Ông O rít điếu thuốc thong thả buông lời: "Tôi hứa trước tập thể là từ nay không cãi chửi nhau và không quan hệ gì với họ nữa!".                                  

Mọi người nhìn nhau ngơ ngác. Biên bản hoà giải thành được lập, chữ kí và điểm chỉ dày đặc của đủ các thành phần.

Sau 01 năm, tôi trở lại đó, ông N Đội trưởng ngày trước cho biết mọi việc dừng ở đấy, "yên ắng lắm, nhưng họ tuyệt giao thật anh ạ!".

Hoà giải chỉ ngăn chặn những xung đột bên ngoài, làm mất trật tự trị an khu vực thôi ư? Vậy là cái cốt lõi chưa được giải quyết thấu đáo. Hoà giải nhằm xoá đi mâu thuẫn, xích mích, lấy lại tình nghĩa tương thân, tương ái, kết đoàn dựng xây gia đình, dòng họ, xóm làng yên vui, bảo vệ trật tự trị an, cùng phát triển kinh tế.. chứ đâu chỉ vẻ bề ngoài yên ắng. Cái yên ắng dứt mối thâm giao dòng họ kia chắc chắn ẩn chứa bao dằn vặt canh cánh bên lòng người trong cuộc. Âm ỉ tàn lửa chờ cơ bùng cháy hay nỗi khắc khoải chờ mong bàn tay chìa ra từ phía bên kia? Dù thế nào, rõ ràng cần đến người trung gian hoà giải nhằm an ninh lòng người.

Bài học qua sự việc này không đơn thuần là phương pháp, yếu tố pháp luật đúng sai, mà chính yếu là sự thiếu nhạy bén cảm nhận dấu hiệu "mẩu rễ cỏ gianh" sót lại tiềm ẩn hậu quả lớn, đánh giá sai kết quả: mới giải quyết được một phần nguyên nhân, khắc phục hậu quả ban đầu của mâu thuẫn đã ngỡ xong xuôi. Sau xung đột, "tự trọng", tự ái và cố chấp bọc giữ mâu thuẫn, nhưng đã không được quan tâm giải quyết đến cùng, nên mục đích trọng yếu của hoà giải là đoàn kết - chưa đạt được, còn đó bầu không khí nặng nề đoạn tình đằng đẵng ngần ấy năm trời. Nếu chỉ phân định đúng sai, dẹp yên xung đột thì biện pháp chính quyền nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn hoà giải.

1.20. Tranh chấp bình tro cốt

  1. a.     Nội dung tranh chấp

Ông A là người ở tại thành phố Hồ Chí Minh, trước ngày giải phóng đất nước (30/4/1975) ông chung sống với bà B ở thành phố Hồ Chí Minh và có 04 người con chung, sau đó cũng trước ngày 30/4/1975 ông quen và sống chung với bà C ở Bình Dương và có 02 con chung. Cả hai người đàn bà đều không đăng ký kết hôn với ông A, nhưng mối quan hệ giữa các bà và các con đều vui vẻ.

Năm 2013, ông A bị bệnh nặng, được đưa về thành phố Hồ Chí Minh trị bệnh. Lúc này cả bà B, bà C và 6 con đều chung sức chăm sóc chu đáo và tận tình, nhưng do bệnh nặng, ông qua đời.

Sau khi ông qua đời, bà C đem thi hài ông về Bình Dương làm đám tang, khi đó mọi người đều đồng ý, thi hài của ông A được hoả thiêu và bà C đem về thờ cúng.

Tưởng chừng như mọi việc đã yên ổn, nhưng đến khi cúng 100 ngày, bà B và 4 người con ở thành phố Hồ Chí Minh đến yêu cầu bà C cho mang bình hài cốt ông A về thành phố Hồ Chí Minh để thờ cúng. Bà C và 2 người con ở Bình Dương không đồng ý. Giữa hai bà nảy sinh mâu thuẫn. Bà C nhờ tổ hòa giải can thiệp.

b. Quá trình hoà giải

Sau khi xem xét vụ việc và ghi nhận tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các bên, hoà giải viên nhận thấy vụ việc tuy đơn giản nhưng chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh.

Chính vì vậy, hoà giải viên đã dựa vào niềm tin, tình cảm và nhất là tâm linh của con người để phân tích, động viên các bên ngồi lại với nhau. Phân tích cho họ thấy "người chết được an nghỉ, người sống thanh thản an vui". Từ đó, hòa giải viên đã thuyết phục được hai bên nhìn nhận điều đúng, điều đáng làm để hướng tới và đồng thuận với nhau.

Sự việc cho thấy, không phải mọi trường hợp tranh chấp xảy ra chỉ dựa vào pháp luật để giải quyết, mà còn vận dụng nhiều yếu tố khác mà pháp luật chưa đề cập, cần hết sức chú ý đến tình cảm giữa những con người với nhau.

1.21. Chỉ tại tường nghiêng

a. Nội dung vụ việc

Ông H và ông T là hàng xóm liền kề nhau tại số nhà 196, phường X, thành phố Y. Năm 2015, ông T có xây dựng bức tường bê tông và đổ đất để làm sân phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng, bức tường trên đã bị ngả sang phần đất của gia đình ông H khoảng 0,2m. Ông H đã yêu cầu ông T phá bỏ bức tường nghiêng sang phần đất nhà mình, nhưng ông T không đồng ý (lý do: Nhà ông xây đúng ranh giới đất giữa 2 gia đình). Hai bên đã nhiều lần xảy ra xô xát, cãi vã. Ông H đã làm đơn đề nghị tổ hòa giải khối II, phường X giải quyết giúp gia đình theo đúng quy định của pháp luật.

b. Quá trình hòa giải

Ngay sau khi tổ hòa giải khối II, phường X nhận được đơn đề nghị, tổ hòa giải đã đến nhà ông T để tìm hiểu sự việc. Tổ hòa giải được ông T cho biết, việc gia đình ông xây dựng bức tường bê tông và đổ đất để làm sân phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày trong phần diện tích của gia đình là hoàn toàn đúng; đồng thời, khẳng định nếu gia đình có lấn sang đất nhà ông H thì gia đình sẽ tháo dỡ trả lại cho ông H.

Trên cơ sở tìm hiểu vụ việc tại nhà ông T, tổ hòa giải đến nhà ông H để thu thập giấy tờ liên quan đến mảnh đất và đề nghị ông H không được gây mất trật tự an ninh, làm mất tình cảm giữa hai gia đình, vìông T đồng ý tháo dỡ bức tường nếu có lấn sang phần đất của gia đình ông H.

Tổ hòa giải đã tiến hành tìm hiểu sự việc với những người sống gần đó, đồng thời, phối hợp với cán bộ địa chính UBND phường X để tìm hiểu 2 mảnh đất trên tại bản đồ địa chính lưu trữ tại phường. Sau đó chọn thời điểm thích hợp để mời 2 bên đến nhà văn hóa khối tổ chức hòa giải. Tại cuộc hòa giải ngày 07/5/2015, tổ hòa giải đã phân tích cho các bên hiểu các quy định của Điều 268 Bộ luật Dân sự năm 2005 về nghĩa vụ bảo đảm an toàn đối với công trình xây dựng liền kề và các quy định của Luật Đất đai khi các bên tranh chấp về ranh giới liền kề.

Được biết, ông T đã sử dụng đúng phần diện tích đang sử dụng của gia đình khi xây dựng bức tường bê tông và đổ đất để làm sân phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Để xác định xem ông T có lấn chiếm đất nhà ông H hay không, tổ hòa giải đã cùng 2 bên gia đình tiến hành đo lại diện tích đất của 2 hộ. Kết quả là phần diện tích đất trống của ông H đúng với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, phần bức tường của gia đình ông T có nghiêng sang đất của ông H (chỗ lớn khoảng 0,45m; chỗ nhỏ khoảng 0,30m).

Kết hợp với việc phân tích đạo lý ở đời, tình làng nghĩa xóm, truyền thống tương thân tương ái vốn có của dân tộc ta và các quy định của pháp luật về đất đai, cuối cùng hai bên gia đình đã ngồi lại với nhau, cùng thống nhất theo ý kiến của tổ hòa giải, ông T cam kết tháo dỡ bức tường nghiêng sang phần đất của gia đình ông H trong thời hạn 15 ngày, 2 bên đã bắt tay nhau và giữ được mối đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

Đến ngày 20/5/2015, gia đình ông T đã thực hiện đúng cam kết ghi trong biên bản mà các bên đã ký kết. Đây là vụ việc đã được hòa giải thành.

Qua vụ việc trên, bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác hòa giải cơ sở là: Để làm tốt được các vụ việc hòa giải ngay tại cơ sở, các thành viên tổ hòa giải phải luôn tận tụy, tìm hiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn; phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên để thu thập thông tin tranh chấp, trao đổi hướng giải quyết với các thành viên dự hòa giải, đồng thời lựa chọn thời điểm thích hợp để mời các bên đến để hòa giải. Trong hòa giải luôn kết hợp với việc phân tích đạo lý ở đời, tình làng nghĩa xóm, truyền thống tương thân tương ái vốn có của dân tộc ta và các quy định của pháp luật.

1.22. Chỉ vì con gà trống lạc

  1. a.     Nội dung tranh chấp

Năm 2003, nhà chị G mua hai con gà mái và một con gà trống về để tạo giống. Được ít hôm, con gà trống lạc mất, chị tìm mà không được. Buổi trưa sau đó vài hôm, anh H bắt và làm thịt một con gà ở nhà mình. Nghe mọi người đồn gà của chị chạy sang nhà anh H, bị anh giết thịt nhậu, chị G chạy sang, thì con gà đã bị cắt cổ, chị yêu cầu anh H phải bồi thường con gà trống. Anh H không bồi thường và nói nặng lời với chị. Từ đó hai nhà mâu thuẫn với nhau, thường xuyên gây gổ, ảnh hưởng đến lối xóm.

a. Quá trình hoà giải

Hoà giải viên tiếp cận, khuyên nhủ hai bên và bắt đầu tìm nguyên nhân sự việc, truy tìm thủ phạm lời đồn đại anh H bắt gà của chị G.

Hòa giải viên đã nêu lên mâu thuẫn của hai bên và yêu cầu mọi người thuật lại vụ việc. Sau đó hòa giải viên phân tích vận dụng ca dao, tục ngữ và pháp luật dân sự cho hai bên hiểu rõ. Nhưng hai bên vẫn chưa bằng lòng.

Tiếp theo hòa giải viên hỏi chị G nghe ai nói anh H bắt gà; chị nói con anh T. Hỏi con anh T, thì con anh nói là chỉ nghe tiếng gà la inh ỏi ở nhà anh H nên nói chị qua xem.

Cuối cùng cán bộ hòa giải mới đem một con gà ra hỏi chị G xem có phải gà của chị không chị G ngỡ ngàng… im lặng (Con gà này do ông L ở xóm bên mang trả, vì không biết của ai, nên trao cho tổ hoà giải). Tổ hoà giải tiếp tục động viên các bên giữ tình đoàn kết xóm làng, mọi việc xảy ra phải bình tĩnh cùng nhau xem xét.

Thế là sự việc được giải quyết, mọi người đều cảm thấy ái ngại, ân hận vì lời lẽ của mình…

Qua sự việc trên, chúng ta thấy mọi người cần phải cẩn trọng trong lời nói, cần phải xem xét cụ thể, không vì lời đồn không xác thực… mà mất đi tình cảm bà con lối xóm bấy lâu, bản thân mình cũng không được vui, mà còn ân hận, "lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".

1.23. “Khoá tay ông hàng xóm”

a. Nội dung vụ việc

Gia đình anh D và gia đình anh T ở đối diện nhau trong ngõ X, quan hệ hai bên gia đình lâu nay rất vui vẻ, đoàn kết. Nhưng chỉ vì một hôm, con anh D và con anh T xảy ra xích mích, con anh D đánh con anh T vài quả đấm không đến nỗi đau lắm và trước đó các cháu vẫn chơi đùa cùng nhau.

Anh T xót con, nên hai bên gia đình có lời qua tiếng lại gây nên sự bất hòa. Tưởng câu chuyện chỉ dừng ở đó, nhưng vì bực tức, một hôm anh T vui vẻ bạn bè về nhà trong tình trạng quá chén, đến 3 giờ sáng anh T ra sát hàng rào réo chửi cha anh D là cụ Nguyễn Ngọc K, năm nay đã 70 tuổi và là một cán bộ đã nghỉ hưu. Lúc đó gia đình anh D cho rằng anh T say rượu, không chấp, mọi người trong nhà giữ thái độ im lặng. Nhưng đến 5 giờ 30 phút, anh T vẫn ra sức chửi cụ K, chửi gia đình anh D và thách thức “Gia đình mày chết hết rồi à? Ra đây chửi nhau”... Không thể nhịn được nữa, anh D ra cửa ngăn anh T nhưng không được. Anh T tay lăm lăm một thanh gỗ sẵn sàng để đánh nhau với anh D. Anh trai anh D là anh H thấy tình thế nguy hiểm, lại sẵn có khóa số 8 nên vào nhà lấy khóa ra khóa tay anh T vào hàng rào. Đến sáng anh D mới ra hỏi anh T đã tỉnh rượu chưa để trao đổi, dàn hòa và mở khóa để anh T trở về nhà.

Tức giận về hành vi của gia đình anh D, anh T làm đơn tố cáo sự việc của anh D, gửi đến cơ quan anh D công tác.

Trước tình hình căng thẳng của hai bên gia đình anh T và anh D, tổ hòa giải đã vào cuộc, tìm hiểu cặn kẽ sự việc nêu ở trên. Tiếp đó tổ hòa giải đã tổ chức một buổi hòa giải về những khúc mắc của hai bên gia đình, mời gia đình anh D và gia đình anh T đến hòa giải, tham gia buổi hòa giải gồm có đồng chí bí thư Chi bộ, đồng chí khối trưởng và đồng chí tổ trưởng tổ dân phố là thành viên của tổ hòa giải.

b. Quá trình hòa giải

Tổ hòa giải xác định: Mọi người tham gia buổi hòa giải cần có thái độ bình tĩnh, tôn trọng lẫn nhau, công tâm, khách quan, thẳng thắn, lắng nghe, cầu thị và tôn trọng sự thật. Cuộc hòa giải không nhằm giải quyết thắng, thua, mà là phân tích đúng, sai (ai sai, sự việc nào sai…), sai thì phải nhận và sửa sai với phương châm “Phải trái phân minh, nghĩa tình trọn vẹn”. Tiếp sau đó, gia đình anh D và anh T trình bày các sự việc một cách cặn kẽ, cụ thể như đã tóm tắt ở trên.

Sau khi lắng nghe hai bên gia đình trình bày sự việc, các thành viên tham gia dự hòa giải phát biểu ý kiến, phân tích sâu sắc, có lý có tình về những việc làm đúng sai của hai gia đình, cụ thể: 

Sự việc ban đầu rất nhỏ, chỉ là việc các cháu còn nhỏ chơi đùa với nhau, không kiểm soát được hành vi, nên đánh nhau. Nhưng vì người lớn của hai gia đình chưa thấu hiểu, chưa cảm thông hết, bực bội nên đã có những lời nói, những hành động xúc phạm đến nhau, làm cho sự việc trở nên trầm trọng. Trong sự việc xảy ra, cả hai bên gia đình đều có những sai trái cần phải sửa chữa: Anh T vì thương con mà chửi cụ K (cha của anh D) là một việc trái với đạo lý. Vì cụ K đáng tuổi cha của anh T, cụ cũng không phải là nguyên nhân gây ra vụ việc. Việc làm của anh T là rất khó chấp nhận, nó đi ngược lại luân thường, đạo lý, đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hành động sai trái tiếp theo của gia đình anh D. Còn về phía gia đình anh D, vì quá bức xúc, đã dùng khóa số 8 khóa tay anh T vào hàng rào. Đây là một việc làm vừa xúc phạm đến nhân phẩm của anh T, vừa vi phạm pháp luật về quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân.

Nhưng ở đây mọi người đều cảm thông về nỗi bức xúc của mỗi bên, đã cả giận mất khôn, dẫn đến những việc làm sai trái đáng tiếc.

Qua phân tích của tập thể, hai gia đình đều nhận ra cái sai, nhận ra lỗi lầm của mình. Anh D và anh T đã bắt tay nhau dàn hòa và xin lỗi mọi người. Anh T hứa với tổ hòa giải là rút đơn tố cáo anh D.

Buổi hòa giải thành công, mọi người vui vẻ ra về. Từ đó đến nay gia đình anh D và anh T đã trở lại đoàn kết và gắn bó trong quan hệ xóm giềng.

Qua vụ việc trên cho thấy, muốn hòa giải thành công, tổ hòa giải phải sâu sát tìm hiểu sự việc; các hòa giải viên phải đặt mình vào đối tượng hòa giải để cảm thông, để thấu hiểu, từ đó có giải pháp thấu tình đạt lý, làm cho đối tượng tâm phục khẩu phục. Công việc hòa giải không phải chỉ là việc riêng của tổ hòa giải mà là công việc của các đoàn thể ở khối phố. Ở khối 3, phường Y, các tổ chức đoàn thể luôn coi trọng, chăm lo khối đoàn kết cộng đồng, xây dựng tổ chức liên gia để cùng nhau chia sẻ vui buồn. Do vậy, mâu thuẫn nảy sinh sớm được cộng đồng liên gia khắc phục. Các vụ việc cần hòa giải ngày càng ít, tình nghĩa hàng xóm, láng giềng, cộng đồng khối phố ngày một thêm gắn bó, đoàn kết.

1.24. Gà cùng một mẹ

a. Nội dung sự việc

Các anh, chị em trong thân tộc cùng sống chung trên một thửa đất của cha, mẹ (đã chết hết) đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chưa tách thửa) ở ấp Ba Se B, xã Lương Hoà, huyện Châu Thành. Trên thửa đất ấy có một cây dầu (loại cây lâu năm) rất to. Mỗi khi có trời mưa, giông, một số hộ sợ cây gẫy, đổ sẽ gây ra tai nạn đáng tiếc, nên 5 anh em thống nhất đốn cây dầu bán, chia tiền cho nhau. Còn lại 2 người nhất quyết không chịu đốn cây dầu, nên xảy ra mâu thuẫn tranh chấp quyết liệt.

b. Quá trình hoà giải

Tổ hoà giải đã xác định nguyên nhân mâu thuẫn: là do các anh em chưa hiểu quy định của pháp luật về việc định đoạt tài sản chung. Trong khi 5 người thống nhất đốn cây dầu đem bán lấy tiền chia nhau, còn lại 2 người kia không cho đốn cây thì không được chia tiền bán cây dầu.

Phân tích: 7 anh em trong gia đình chưa thật sự đoàn kết với nhau, cùng sống chung trên một thửa đất của cha mẹ, nhưng không đồng lòng trong việc giải quyết công việc quá đơn giản. Năm người kia thống nhất bán cây chia tiền nhau nhưng không chia cho hai người anh, em của mình là vi phạm quy định của pháp luật dân sự. Ngược lại, 2 người anh, em cũng chưa thấy nghĩa vụ của mình đối với tài sản chung.

Tổ hoà giải giải thích cho các bên tranh chấp hiểu về luật dân sự quy định việc sở hữu chung, chiếm hữu tài sản chung, sử dụng, định đoạt và chia tài sản chung theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra, tổ hòa giải còn nhờ những người lớn tuổi, có uy tín với gia đình tác động để xây dựng tình thân tộc trong anh em họ, đồng thời vận  động, thuyết phục các bên tranh chấp cùng đi đến thống nhất chung.

Cách giải quyết: Căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 từ Điều 211 đến Điều 220, căn cứ Luật đất đai 2014, dựa theo phong tục, tập quán của địa phương, vận động, thuyết phục các anh em trong dòng họ cùng nhau thống nhất: đốn cây dầu, bán lấy tiền chia đều cho anh em. Nếu không đốn cây, khi có mưa to, gió lớn, cây gãy, đổ, chẳng may trúng một người trong 7 anh em thì những người khác đều đau xót. Qua vận động các anh em, họ đã hiểu và thống nhất hoà giải thành.

1.25. Bảo vệ môi trường chung

a. Nội dung vụ việc

Nhà bà T và nhà ông H là hai hộ sát liền kề, cùng ở trên gác 2 của căn nhà biệt thự cũ. Thời gian gần đây, ông H có nuôi chim, gà tre và làm chuồng nuôi nhốt sát ngay cửa sổ thông thoáng nhà bà T. Việc nuôi chim, gà tre của gia đình ông H đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của gia đình bà T. Phân gà, phân chim bốc mùi hôi thối, gây ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, ô nhiễm không khí khiến gia đình bà T phải đóng kín cửa sổ, nhưng mùi hôi thối vẫn bay vào nhà. Hơn thế nữa, mỗi khi thay đổi thời tiết, những con ruồi, con mát rất nhiều, bay cả vào nhà bà T gây mất vệ sinh và ảnh hưởng đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình bà T. Mặc dù, bà T đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông H vẫn không tiếp thu. Giữa hai bên đã lời qua tiếng lại, gây ầm ĩ, mất trật tự nơi xóm phố.

b. Quá trình hòa giải

Tổ hòa giải tổ dân phố X nhận thấy, đây là vụ việc cần được tiến hành hòa giải cơ sở theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP về hướng dẫn chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Tổ hòa giải đã nghiên cứu, lựa chọn và cử người tham gia hòa giải là người có uy tín và nắm rõ nguyên nhân tranh chấp. Hòa giải viên đã chủ động tìm hiểu nguyên nhân phát sinh xích mích, tìm biện pháp khắc phục không để việc đơn giản thành phức tạp.

Các thành viên của tổ hòa giải đã đến gia đình bà T nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của gia đình bà. Bên cạnh đó, tổ hòa giải cũng gặp gỡ ông H tìm hiểu về sở thích nuôi gia cầm của ông, xem xét về điều kiện vệ sinh, chuồng nuôi có đảm bảo không. Hòa giải viên đã thuyết phục hai bên cần phải có ứng xử phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt Nam là “bán anh em xa mua láng giềng gần”, “hàng xóm tối lửa, tắt đèn có nhau”.

Sau khi gặp gỡ các bên, tổ hòa giải đã tiến hành họp để hòa giải trong không khí cởi mở. Hai gia đình có mâu thuẫn đã được các thành viên tổ hòa giải phân tích, giải thích các quy định của pháp luật liên quan. Cụ thể là Điều 81 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có quy định: “Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng; phân loại, chuyển rác thải vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng” và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc bảo vệ môi trường: “Chủ sở hữu phải tuân theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại”.

Gia đình ông H sau khi nghe tổ hòa giải phân tích có lý, có tình đã tự nguyện di chuyển số gia cầm đang nuôi đi chỗ khác trong khuôn viên khu nhà ở, tuy nhiên, phương án này vẫn chưa giải quyết được triệt để việc ô nhiễm môi trường do khu vực hai gia đình đang sinh sống nguyên là nhà biệt thự cũ, hai nhà sát liền kề nhau, nên dù đã di chuyển chuồng nuôi ra xa, nhưng không khí xung quanh vẫn bị ô nhiễm.

Do nguyện vọng, yêu cầu của gia đình chưa được giải quyết triệt để, bà T đã tiếp tục gửi đơn kiến nghị lên UBND phường, đề nghị phường giải quyết dứt điểm việc nuôi nhốt gia cầm của nhà ông H. UBND phường đã kết hợp trạm thú y B, xuống kiểm tra thực tế các điều kiện về vệ sinh, kiểm dịch. Nhận thấy việc nuôi chim, gà của gia đình ông H chưa đảm bảo các yêu cầu, điều kiện theo quy định. UBND phường yêu cầu gia đình ông H dừng việc nuôi chim, gà của gia đình.

Trên đây là một vụ việc hòa giải không thành, các bên đã không đạt được thỏa thuận. Có thể thấy, nếu gia đình hai bên hiểu và thông cảm cho nhau thì vụ việc đã được hòa giải thành ngay từ cơ sở, giữ được tình làng nghĩa xóm. Và tổ hòa giải cần kiên trì thuyết phục, vận động hơn nữa, nên mời cán bộ trạm thú y, cán bộ UBND phường cùng tổ hòa giải làm việc, giải thích cho gia đình ông H trước khi phải xử lý theo quy định của pháp luật để vụ việc được giải quyết bằng hòa giải.

1.26. Trẻ em hiếu động

a. Nội dung vụ việc

Trong vườn nhà bà Trần Thị H (cư trú tại thôn X) có một cây nhãn đang mùa trái chín. Khi gia đình bà H đi vắng, bé Ngô Quốc B, là con trai chị Hà Thị Y (hàng xóm với bà H) đã trèo qua hàng rào, leo lên cây hái nhãn, chẳng may cành nhãn bị gãy, bé B bị ngã, gãy tay.

Chị Y cho rằng cây nhãn của nhà bà H, nên bà H có trách nhiệm thanh toán các khoản tiền thuốc men, bó bột cho bé B. Bà H không đồng ý bồi thường, vì cho rằng bé B đã tự ý trèo cây mà không được sự cho phép của gia đình bà nên phải tự gánh chịu hậu quả. Không ai chịu nhường ai, bà H đã đưa sự việc đến tổ hòa giải thôn X giải quyết.

b. Quá trình hòa giải

Sau khi nắm được vụ việc, hòa giải viên đã giải thích cho hai bên hiểu rõ: Việc bé B bị ngã gãy tay do tự ý trèo lên cây nhãn nhà bà H trong lúc gia đình bà đi vắng, là lỗi của bé B.

Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra”. Theo đó, trong sự việc trên, việc bé B bị ngã gãy tay không phải do cây nhãn nhà bà H gây ra mà hoàn toàn do lỗi của bé B. Vì vậy, chị Y không thể yêu cầu bà H chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền thuốc men và bó bột cho bé B.

Đồng thời, hòa giải viên cũng giải thích cho chị Y hiểu, trẻ con thường hiếu động, thích leo trèo, chị cần phải nhắc nhở con không nên trèo cây, vì đây là hành động rất nguy hiểm; ngoài ra, cũng cần nhắc nhở con không nên sang nhà hàng xóm tự ý hái quả, hay lấy đồ của người khác mà chưa được sự cho phép của họ, đó là việc làm sai trái.

Nghe hòa giải viên giải thích hợp lý, hợp tình, chị Y hiểu ra và không yêu cầu bà H chịu trách nhiệm, đồng thời xin lỗi bà H, hứa sẽ quan tâm, dạy bảo bé B tốt hơn, tránh trường hợp đáng tiếc có thể xảy ra.

1.27. Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

a. Nội dung vụ việc

Gia đình bà M có một khu rẫy thuộc tổ dân phố 4, phường X, thị xã Y, giáp ranh với rẫy cà phê nhà ông N, rẫy nhà bà M nằm sau rẫy nhà ông N, nhà bà M muốn đi lại thì phải đi ngang qua rẫy cà phê nhà ông N. Gia đình nhà bà M đã thoả thuận với ông N mua lại 4m bề ngang rẫy nhà ông N để làm con đường thuận tiện việc đi lại và vận chuyển nông sản, phân bón,… với giá là 4.000.000 đồng bằng giấy viết tay vào ngày 05/01/2000, sau đó ông N đã phá bỏ đi 100 cây cà phê để bàn giao